CHỨNG NHẬN HỢP QUY PHÂN BÓN Bán theo Giấy chứng nhận chào bán cổ phiếu ra công chúng
I. Chứng nhận ISO 9000 Có nước chỉ chứng nhận chất lượng giống cây trồng trên đồng ruộng kiểm định đồng ruộng không qua khâu kiểm nghiệm giống trong phòng
Bộ Công Thương cho biết trong thời gian tới sẽ xây dựng đề án chống sản xuất, kinh doanh phân bón giả, phân bón kém chất lượng và ban hành Thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định số 202/2013/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý phân bón. Nghị định số 202, có hiệu lực từ ngày 1/2/2014, là cơ sở pháp lý quan trọng để đưa hoạt động sản xuất kinh doanh phân bón đi vào nề nếp, đặc biệt là việc ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng phân bón giả, phân bón kém chất lượng trên thị trường. Về tình hình sản xuất, báo cáo về ngành phân bón và hóa chất của Bộ Công thương cho thấy sản lượng phân đạm urê trong tháng 4 ước đạt 175,3 nghìn tấn, tăng 18,2% so với cùng kỳ năm trước; phân NPK đạt 206,3 nghìn tấn, giảm 1,4%. Tính chung 4 tháng đầu năm, Việt Nam sản xuất được 739 nghìn tấn phân đạm urê, tăng 8,9% so với cùng kỳ năm 2013; khoảng 724,2 nghìn tấn phân NPK, giảm 2,8%; khoảng 544,9 nghìn tấn phân lân của Tập đoàn Hóa chất Việt Nam, tăng 6,7%; khoảng 81,1 nghìn tấn phân bón DAP của Tập đoàn Hóa chất Việt Nam, giảm 9,3%. Trong khi đó, nhập khẩu phân bón 4 tháng đầu năm cũng giảm 5,5% về số lượng và giảm 26,5% về trị giá. Nhìn chung, thị trường phân bón trong nước từ đầu năm 2014 đến nay không có nhiều biến động do nguồn cung phân bón dồi dào. Trung Nghĩa - Người Đồng Hành. Trong 6 tháng đầu năm 2013, Cục Quản lý Thị trường đã tiến hành kiểm tra 1057 vụ, phát hiện xử lý 258 vụ sản xuất kinh doanh phân bón giả, với số tiền xử phạt là hơn 3,9 tỷ ảnh: baocongthuong Ông Võ Văn Quyền, Vụ trưởng Vụ Thị trường trong nước, Bộ Công thương cho biết, với chủ trương phát triển mạnh ngành công nghiệp phân bón để chủ động phục vụ sản xuất nông nghiệp trong nước, hạn chế nhập khẩu, sản xuất phân bón vô cơ trong nước đã không ngừng tăng trưởng trong những năm gần đây. Cụ thể năng lực sản xuất phân bón trong nước hiện đã đáp ứng được trên 80% nhu cầu sử dụng phân vô cơ với tổng sản lượng sản xuất hàng năm đạt trên 8 triệu tấn các loại. Đặc biệt năng lực sản xuất một số loại phân bón chính như Urê, NPK, Lân hiện tại đã đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước. Thế chứng nhận, phân bón nhưng cùng với sự phát triển đó, tình trạng sản xuất, kinh doanh phân bón giả, phân bón kém chất lượng vẫn đáng lo ngại. Ông Võ Văn Quyền cảnh báo: Theo Cục Quản lý thị trường, Bộ Công thương, đến tháng 07 năm 2013 cả nước có 300 doanh nghiệp tham gia sản xuất phân bón và 13.908 cơ sở kinh doanh đang hoạt động thường xuyên trong lĩnh vực phân bón. Thời gian qua, bên cạnh việc làm ăn chân chính của những doanh nghiệp lớn có uy tín thì vẫn nổi lên hoạt động kinh doanh phân bón giả, kém chất lượng của một số tổ chức, cá nhân. Trong 6 tháng đầu năm 2013, Cục Quản lý Thị trường đã tiến hành kiểm tra 1057 vụ, phát hiện xử lý 258 vụ vi phạm, với số tiền xử phạt là hơn 3,9 tỷ đồng và trị giá hàng tiêu hủy là gần 2 tỷ đồng. Đề cập về đối tượng và quy mô tính chất vi phạm của các đối tượng này, ông Phạm Ngọc Tuynh, Phó đại diện phía Nam Cục Quản lý thị trường nói: Như vậy có thể thấy tuy hoạt động sản xuất kinh doanh phân bón gần đây đã có những chuyển biến tích cực nhưng đằng sau đó vẫn tồn tại không ít những nỗi lo về chất lượng. Và để khắc phục bất cập này rõ ràng việc đưa hoạt động sản xuất phân bón đi vào khuôn khổ là một việc làm cấp thiết. Bà Hồ Thị Kim Thoa, Thứ trưởng Bộ Công thương cho biết, hiện nay Thủ tướng Chính phủ cũng đã giao cho Bộ Công thương chủ trì soạn thảo dự thảo mới về quản lý thị trường phân bón. Theo đó, sẽ có sự phân định rạch ròi về phân công trách nhiệm quản lý phân bón. Bộ Công thương được phân công quản lý mặt hàng phân bón vô cơ, còn Bộ NN&PTNT quản lý mặt hàng phân bón hữu cơ. Hy vọng trong thời gian tới hoạt động sản xuất kinh doanh phân bón sẽ đi vào ổn định khi nghị định mới được ban hành. Bởi dự thảo Nghị định mới sẽ xem xét đưa mặt hàng phân bón vào mặt hàng kinh doanh có điều kiện. Trong đó sẽ tăng tính răn đe bằng cách nâng mức độ xử phạt cũng như biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm gây nên..
Giá phân bón trong nước hiện phổ biến ở mức: Ure 9.700-10.000 đồng/kg; kali 11.300-12.000 đồng/kg; DAP 14.000-14.300 đồng/kg; NPK từ 11.200-11.500 đồng/kg. Để đảm bảo nguồn cung phân bón cho vụ Đông Xuân 2012-2013, Bộ Công Thương đã phối hợp với Bộ NN&PTNT rà soát về cân đối cung cầu mặt hàng phân bón cho vụ Đông Xuân 2012-2013 và cho cả năm 2013. Dự báo, thị trường phân bón trong nước tháng 12 sẽ sôi động hơn, giá phân bón tăng do nhu cầu phân bón cho vụ Đông Xuân tăng, tuy nhiên, giá tăng không nhiều do nguồn cung dồi dào. Phạm Tuyên. Giá tăng do thiếu hụt nguồn cung Theo Bộ Công Thương, từ đầu năm, do nhu cầu phân bón tăng mạnh nên một số nhà máy trong nước đã đẩy mạnh sản xuất và nhiều đơn vị đã nhập khẩu về một lượng phân bón lớn. Nhưng do lệch mùa vụ giữa các vùng miền, lãi suất ngân hàng cao nên nông dân chỉ mua ở mức độ vừa phải dẫn đến cuối quý I/2012 lượng tồn kho phân bón tăng hơn 55% so với cùng kỳ. Để quay vòng đồng vốn, một số doanh nghiệp đã giảm giá bán, giảm lượng hàng tồn kho. Nhưng ngay sau đó, nhu cầu sử dụng phân bón lại tăng cao, nhất là tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long bước vào vụ hè thu; khu vực Đông Nam bộ và Tây Nguyên bón phân cho cây cà phê và cao su; mùa mưa tại miền Nam đến sớm hơn quy luật mọi năm nên đã thiếu hàng cục bộ khiến giá phân bón tăng cao. Trong khi đó, theo kế hoạch, Nhà máy Đạm Cà Mau công suất 800.000 tấn/năm sẽ cho sản phẩm tháng 2 và đạt 100% công suất vào tháng 4/2012, Nhà máy Đạm Ninh Bình công suất 560.000 tấn/năm cũng sẽ cung cấp sản phẩm vào tháng 2/2012. Tuy nhiên, những nhà máy này đã không vận hành đúng kế hoạch, làm cho nguồn cung urê khan hiếm, giá phân bón tăng cao. Bên cạnh đó, chi phí vận chuyển cũng tăng mạnh cùng với tác động của giá phân bón trên thị trường thế giới tăng cao nên giá phân bón trong nước cũng phải tăng theo. Lý giải về điều này, Hiệp hội phân bón Việt Nam cho biết, nhu cầu phân bón các loại của cả nước trong năm 2012 vào khoảng 9,8 triệu tấn. Trong đó phân urê 2 triệu tấn, đạm SA 710.000 tấn, phân kali 920.000 tấn, DAP 950.000 tấn, phân NPK 3,5 triệu tấn, phân lân các loại 1,8 triệu tấn. Trong khi đó, khả năng sản xuất trong nước là 7,25 triệu tấn phân bón các loại và chỉ còn phải nhập thêm phân SA, kali, DAP. Cũng do Việt Nam vẫn phụ thuộc một số loại phân bón vào thị trường thế giới, nên mỗi khi thị trường này có biến động sẽ tác động ngay đến thị trường trong nước và việc tăng giá bán phân bón là điều khó tránh khỏi. Cụ thể, từ đầu năm đến nay, giá phân bón trên thị trường thế giới luôn có xu hướng tăng, đặc biệt do ngành nông nghiệp của các quốc gia lớn trên thế giới như Ấn Độ, Trung Quốc… cùng vào vụ sản xuất các cây lương thực chính nên giá nhập khẩu của mặt hàng này trong tháng 6 đã tăng khá mạnh, lên đến 461 USD/tấn so với mức 300 USD/tấn của cùng kỳ năm 2011. Hiện giá bán phân urê ở các tỉnh phía Nam từ 570.000 đến 575.000 đồng/bao 50 kg, tăng khoảng 70.000 đến 80.000 đồng so với đầu năm nay; ở một số tỉnh miền Bắc và miền Trung cao hơn, ở mức 590.000 đến 600.000 đồng/bao. Trong khi nguồn cung trong nước không đáp ứng đủ, để đáp ứng nhu cầu trong nước, một số đơn vị đã tiếp tục nhập khẩu phân bón để đáp ứng nhu cầu thị trường. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, phân urê là một trong những loại phân bón được nhập khẩu nhiều nhất trong các năm trước. Tuy nhiên, bước sang năm 2012, mặc dù nhà máy đạm Cà Mau và Ninh Bình đi vào hoạt động chưa ổn định, nhưng cũng góp phần giảm lượng phân urê nhập khẩu trong tháng 6 xuống còn 270.000 tấn, đạt kim ngạch 125 triệu USD, đưa lượng phân bón các loại nhập khẩu 6 tháng đầu năm trên 1,4 triệu tấn với giá trị nhập khẩu 636 triệu USD, giảm 23% về lượng và giảm 11,2% giá trị nhập khẩu so với cùng kỳ năm trước. Đảm đảm bảo nguồn cung cho thị trường Dự báo về thị trường phân bón thời gian tới, Bộ Công Thương cho biết, thị trường phân bón trong nước sẽ có biến động do ảnh hưởng bởi sự biến động của thị trường phân bón quốc tế. Theo đó, các thị trường lớn như Ấn độ, Trung Quốc được dự báo sẽ tăng giá nhiều loại phân bón đặc biệt là urê phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và một số nước cũng đã thực hiện chính sách không khuyến khích xuất khẩu phân bón để tiêu dùng trong nước. Để giải quyết bài toán cung cầu và góp phần hạ nhiệt thị trường phân bón trong nước, Bộ Công Thương đã đề nghị các nhà máy sản xuất cần phải hoạt động liên tục và ổn định để đảm bảo nguồn cung. Bên cạnh đó, các nhà sản xuất phân đạm trong nước, các đầu mối nhập khẩu phân bón cũng chung tay thực hiện nhiệm vụ bình ổn thị trường và cần coi đó là trách nhiệm của doanh nghiệp với xã hội. Với đơn vị chiếm tới 60% thị phần phân đạm và chịu trách nhiệm trong công tác bình ổn thị trường, Bộ Công Thương chỉ đạo Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí PVFCCo đẩy mạnh sản xuất, chuẩn bị vận chuyển trước lượng hàng về các kho đầu mối, kho trung chuyển, gửi kho đại lý ở các vùng miền trước khi đến cao điểm mùa vụ, đặc biệt là vụ đông xuân đang cận kề. Bên cạnh đó PVFCCo cũng cần triển khai sớm kế hoạch tiêu thụ đạm Cà Mau, tránh để hiện tượng trong khi tồn kho rất lớn nhưng thị trường lại thiếu hàng như thời gian vừa qua. Mặt khác, PVFCCo cũng đẩy mạnh việc nắm sát thông tin thị trường để điều tiết nguồn hàng tập trung cho các địa phương đang có nhu cầu cao, hạn chế việc tăng giá do thiếu hàng cục bộ. Ngoài ra, Bộ Công Thương cũng yêu cầu hai nhà máy đạm Cà Mau và Ninh Bình sớm đi vào vận hành thương mại, cùng với nhà máy đạm Phú Mỹ vận hành ổn định để góp phần chấm dứt những cơn sốt giá phân đạm trong nước. Văn Xuyên. DPM cũng cho biết thêm thời gian qua Tổng Công ty bước đầu đã đạt được hiệu quả tích cực từ việc áp dụng chính sách giá bán sát với giá thị trường. Theo DPM, liên tục từ đầu năm 2011, giá phân đạm trên thị trường quốc tế luôn diễn biến bất thường, giá bao gồm cước vận chuyển về khu vực Đông Nam Á từ mức 400USD/tấn vào tháng 1/2011 hiện nay đã tăng lên hơn 500 USD/tấn tăng hơn 40%. Đồng thời, do một số bất ổn tại các khu vực thị trường nên nguồn cung không ổn định và lượng hàng được tập trung sẵn để giao rất hạn chế. Tại thị trường trong nước, từ trước tháng 03/2011, giá bán Đạm Phú Mỹ được định thấp hơn giá thị trường từ 10-15%. Do có sự chênh lệch giữa giá trong nước và giá quốc tế nên các doanh nghiệp kinh doanh phân bón khó triển khai nhập khẩu, dẫn đến tình trạng thiếu hàng, đầu cơ hàng, trong khi đến 50% lượng phân đạm sử dụng trong sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu.Trước tình hình trên, theo chủ trương đã được các Bộ, ngành liên quan bao gồm Bộ Công thương, Bộ Tài chính và Cục quản lý giá và Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, bắt đầu từ quý 2/2011, DPM đã triển khai áp dụng chính sách bán Đạm Phú Mỹ theo giá trần” sát với giá thị trường, đăng ký và công bố giá rộng rãi, tăng giá có lộ trình nhằm tránh việc gây sốt giá, đầu cơ, tích trữ tại các đại lý trung gian và kích thích các doanh nghiệp khác nhập khẩu hàng bổ sung nguồn cung cho thị trường. Việc Đạm Phú Mỹ được bán sát giá thị trường đã có tác dụng tích cực, đã khuyến khích và thúc đẩy các nhà kinh doanh phân bón tăng cường nhập khẩu để bổ sung thêm nguồn cung cho nhu cầu nội địa, giảm thiểu nguy cơ gây sốt giá. Cụ thể, lượng phân đạm nhập khẩu trong tháng 4 đạt hơn 134,000 tấn, bằng 3 tháng trước đó cộng lại và tính chung cho cả quý 3, lượng phân đạm nhập khẩu đạt hơn 200,000 tấn, cao hơn 60,000 tấn so với quý 1, bổ sung đáng kể cho nguồn cung trong nước. Riêng DPM từ đầu năm đến 31/05 đã nhập khẩu gần 80,000 tấn phân bón các loại. Do vậy, mặc dù Nhà máy Đạm Phú Mỹ dừng 1 tháng để sửa chữa bảo dưỡng từ 15/05 đến 15/06/2011 và giá thế giới tăng cao nhưng do lượng phân bón nhập khẩu về tương đối dồi dào nên thị trường trong nước đã không xảy ra hiện tượng thiếu hàng dẫn đến giá tăng đột biến. Chương trình này được PVFCCO thực hiện từ đầu tháng 11 đến nay theo chương trình bình ổn giá của Chính phủ. Đến thời điểm này, PVFCCO đã bán 4.300 tấn phân bón với giá ưu đãi cho nông dân vùng lũ. Theo kế hoạch, 150 nghìn hộ ở các vùng vừa chứng nhận, phân bón bị ảnh hưởng của đợt mưa lũ sẽ được mua phân đạm với giá rẻ này.. Tổng Thư ký Hiệp hội Phân bón VN, cho biết: Cách đây 3 tháng, giá thế giới của phân urê 850 USD/tấn, hiện nay còn trên 200 USD/tấn; phân DAP từ 1.100 USD - 1.200 USD/tấn, giảm còn 500 USD/tấn; phân SA từ 440 USD/tấn giảm còn 145 USD/tấn. Tương tự, giá nguyên liệu phục vụ sản xuất phân bón cũng giảm như lưu huỳnh từ 1.000 USD/tấn giảm còn 50 USD/tấn. Giá phân bón trong nước hiện nay cũng giảm đáng kể. Nhu cầu phân bón cho sản xuất vụ Đông - Xuân năm nay chỉ khoảng 3,1 triệu tấn, giảm gần 1 triệu tấn so với các năm trước. Trong đó, các doanh nghiệp trong nước đã sản xuất được phân NPK bảo đảm nhu cầu; còn lại chỉ phải nhập khẩu 50% phân u rê và 100% phân DAP, SA, ka li. Đó là dấu hiệu đáng mừng đối với người nông dân, nhưng DN sản xuất phân bón thì sập tiệm do lượng phân bón nhập từ thời kỳ giá đắt còn tồn kho quá nhiều. Theo báo cáo không chính thức của các doanh nghiệp nhập khẩu phân bón và Hiệp hội Phân bón Việt Nam, lượng phân urê, DAP, kali và SA nhập khẩu còn tồn kho tổng cộng 1 triệu tấn. Trong đó, u rê là 388.000 tấn; DAP là 161.000 tấn; SA là 210.000 tấn và ka li là 241.000 tấn. Tuy nhiên, theo Phó Chủ tịch Hiệp hội Phân bón, nếu tính cả phân NPK sản xuất trong nước, thì con số tồn có thể lên tới 2 triệu tấn. Nguyên nhân khiến hàng tồn đọng nhiều và giá xuống thấp là do ảnh hưởng chung của khủng hoảng tài chính thế giới. Tuy nhiên, nguyên nhân chính khiến nhiều doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh phân bón ở trong thế tiến thoái lưỡng nan là do không lường được sự biến động của thị trường. Khi phân bón sốt giá, nhiều doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh đã nhận định rằng mặt hàng này sẽ tiếp tục tăng và có một mặt bằng giá mới, vì vụ Đông - Xuân của nước ta trùng với một số nước sử dụng lượng phân bón nhiều như Ấn Độ, Trung Quốc..., nên các doanh nghiệp đã tìm cách mua phân bón và nguyên liệu sản xuất dự trữ ngay cả ở thời điểm giá cao chót vót. Với giá cả các loại phân bón như hiện nay, nhiều doanh nghiệp phân bón đang bị lỗ nặng, doanh nghiệp lỗ nhiều nhất lên tới gần một nghìn tỷ đồng. Vì vậy, dù đang tồn đọng nhiều, nhưng giá phân bón trong nước vẫn còn ở mức cao so với thị trường thế giới. Theo tính toán, giá phân u rê cao hơn 1.500-2.300 đồng/kg; phân DAP, ka li cao hơn từ 1.500-5.500 đồng/kg so với thị trường thế giới. Đối với các mặt hàng phân NPK được sản xuất hoàn toàn ở trong nước, hiện chỉ mới giảm giá khoảng 20% dù giá nguyên liệu giảm đến 60%. Đó là chưa kể khó khăn do nông dân không bán được lúa nên không có tiền mua phân bón. Để giải cứu các doanh nghiệp, Hiệp hội Phân bón Việt Nam đã kiến nghị Chính phủ các biện pháp như giãn nợ, giảm thuế thu nhập, giảm lãi suất ngân hàng cho doanh nghiệp. Vừa qua, Bộ Tài chính đã chính thức bỏ thuế tuyệt đối thuế xuất khẩu các loại phân bón 4.000-5.000 đồng/kg tạo lối thoát cho các doanh nghiệp. Bộ NN&PTNT cũng đã đề nghị Chính phủ chỉ đạo ngân hàng cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh phân bón giãn nợ đối với khoản vay dùng để nhập khẩu lượng phân đang tồn kho đến hết quý I-2009 và tiếp tục cho vay để doanh nghiệp nhập khẩu. Tuy nhiên, giải pháp hiệu quả nhất là Nhà nước nên tập trung hỗ trợ cho nông dân vượt qua những khó khăn thông qua các chương trình kinh tế xã hội, thành lập quỹ bình ổn giá cả…, từ đó gián tiếp kích cầu thị trường phân bón. Ngoài ra, cơ quan chức năng cần phải chấn chỉnh việc cấp giấy phép sản xuất phân bón; đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật, quy trình canh tác tiên tiến vào sản xuất để nông dân sử dụng phân bón hiệu quả nhất. Trước những biến động lớn của thị trường phân bón urê tại các tỉnh phía Nam thời gian vừa qua, Bộ Công Thương đã tổ chức đợt khảo sát thị trường và làm việc với các doanh nghiệp DN sản xuất. Trong đó, 2 công ty lớn là Công ty TNHH MTV Phân bón dầu khí Cà Mau PVCFC và Tổng công ty Phân bón và Hóa chất dầu khí PVFCCo đáp ứng lượng lớn nhu cầu cho cả nước. CôngThương - Theo PVCFC, Nhà máy đạm Cà Mau có công suất thiết kế 800.000 tấn urê hạt đục/năm 2.400-2.500 tấn/ ngày, có hệ thống kho chứa khoảng 85.000 tấn hàng rời và 10.000 tấn hàng đóng bao, công suất đóng bao khoảng 3.500-4.000 tấn/ngày. Từ khi vận hành đến hết tháng 5/2012, nhà máy đã sản xuất được 179.809 tấn urê, trong đó đã xuất kho được 105.409 tấn, tồn kho đến 31/5 còn 74.400 tấn bao gồm khoảng 66.000 tấn hàng rời và 8.400 tấn hàng đóng bao. Sản phẩm của nhà máy được đưa ra thị trường qua hình thức đấu giá do Ban Quản lý dự án Cụm khí điện đạm Cà Mau kết hợp với PVFCCo thực hiện. Qua 8 lần đấu giá, đến nay đã có 160.900 tấn sản phẩm đấu giá thành công trong đó có 105.000 tấn là sản phẩm thương mại có thể bán lẻ ra thị trường còn lại là các sản phẩm loại 1, 2 chỉ dùng cho sản xuất NPK. Cụ thể: trong 5 lần đấu giá đầu hầu hết là các DN sản xuất NPK trúng thầu, chỉ một số đơn vị thương mại do đó lượng sản phẩm thương mại ra thị trường khá ít. Đối với lô thứ 6, 7, Tập đoàn Dầu khí quốc gia PVN cho phép đấu giá 1/2 lượng sản phẩm, còn lại PVFCCo lấy lại theo giá bình quân của lượng đấu giá để phân phối. Như vậy, theo chỉ đạo của PVN, PVFCCo sẽ phải lấy 25.000 tấn còn lại với giá bình quân của lô đấu giá 7 là 10.300 đ/kg. PVFCCo cho rằng, để bình ổn thị trường,các nhà máy sản xuất cần phải hoạt động liên tục và ổn định để đảm bảo nguồn cung. Bên cạnh đó, các nhà sản xuất phân đạm trong nước, các đầu mối nhập khẩu cùng thực hiện nhiệm vụ bình ổn thị trường như trách nhiệm của doanh nghiệp với xã hội. Tuy nhiên, PVFCCo cho rằng, giá bán trên là cao nên đã chưa chấp nhận lấy hàng. Vì vậy thời điểm cuối tháng 5 mặc dù ngoài thị trường tương đối khan hàng nhưng trong kho của Nhà máy Đạm Cà Mau vẫn tồn kho khá cao khoảng 48.000 tấn. Theo PVCFC, 7 tháng cuối năm, đạm Cà Mau có thể cung ứng cho thị trường khoảng 368.000 tấn sản phẩm urê hạt đục, cùng với lượng tồn kho tổng nguồn cung sẽ đạt gần 400.000 tấn. Hiện nay, việc cung ứng sản phẩm của nhà máy đạm Cà Mau ra thị trường được PVN giao cho PVFCCo bao tiêu sản phẩm. Giá bán hàng được tính theo quy định tại hợp đồng bao tiêu. Chính vì vậy, năng lực cung ứng thực tế cho thị trường của đạm Cà Mau phụ thuộc vào tiến độ lấy hàng của PVFCCo. PVFCCo là đơn vị chịu trách nhiệm trong công tác bình ổn thị trường đạm urê và được giao nhiệm vụ tiêu thụ sản phẩm cho Nhà máy đạm Cà Mau. Trong 5 tháng đầu năm đã cung ứng cho thị trường nội địa gần 400.000 tấn chiếm 50% sản lượng của nhà máy. Trong tháng 4 và 5, PVFCCo đã tập trung đẩy mạnh cung ứng phân bón urê cho thị trường nội địa với lượng cung khoảng 167.000 tấn 83.000 tấn/tháng, lượng tồn kho của PVFCCo cuối tháng 4 chỉ còn 34.000 tấn, cuối tháng 5 là 38.000 tấn - đây là lượng tồn kho khá thấp so với thông thường. Dự kiến từ tháng 6 đến hết năm 2012, PVFCCo sẽ sản xuất khoảng 450.000 tấn sản phẩm, cùng với lượng tồn kho cuối tháng 5 chuyển sang, dự kiến sẽ tiêu thụ tại thị trường nội địa khoảng 410.000-440.000 tấn và tồn kho đến đầu năm sau khoảng 50.000-80.000 tấn. Theo đánh giá của đoàn công tác Bộ Công Thương, PVFCCo thực hiện nhiệm vụ bình ổn thị trường thông qua việc xây dựng hệ thống phân phối sâu rộng đến tay người tiêu dùng, kiểm soát giá bán trong hệ thống, duy trì tồn kho tối thiểu để sẵn sàng cung ứng. Song, với những ưu đãi về giá nguyên liệu đầu vào nhận được trên thực tế, hiện nay, PVFCCo vẫn chưa thực sự cân đối lợi ích để huy động nguồn hàng từ các nguồn khác từ đạm Cà Mau, nhập khẩu để làm tốt công tác bình ổn. Để chuẩn bị nguồn hàng cung ứng kịp thời cho thị trường, đặc biệt vào vụ đông – xuân, PVFCCo cần chuẩn bị vận chuyển trước lượng hàng về các kho đầu mối, kho trung chuyển, gửi kho đại lý ở các vùng miền trước khi đến cao điểm mùa vụ. Đồng thời, cần triển khai chứng nhận, phân bón sớm kế hoạch tiêu thụ đạm Cà Mau, tránh để hiện tượng thị trường thiếu hàng trong khi tồn kho rất lớn như thời gian vừa qua. Bên cạnh đó, cần tăng cường nắm sát thông tin thị trường để điều tiết nguồn hàng tập trung cho các địa phương đang có nhu cầu cao để hạn chế việc tăng giá do thiếu hàng cục bộ. Ngoài ra, PVN cũng chỉ đạo, hướng dẫn PVCFC sớm nghiệm thu Nhà máy đạm Cà Mau để chính thức cung cấp sản phẩm ra thị trường, giao một phần sản phẩm urê thương mại cho PVCFC để chủ động tìm kiếm thị trường, dần tạo lập kênh phân phối riêng cho sản phẩm. QĐND - Tình trạng phân bón giả, phân bón kém chất lượng bán tràn lan trên thị trường thời gian qua khiến người nông dân không khỏi bức xúc. Phân bón giả, phân bón kém chất lượng không chỉ gây thiệt hại về kinh tế cho người nông dân mà còn gây ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất nông nghiệp. Ông Phạm Đồng Quảng, Phó cục trưởng Cục Trồng trọt Bộ NN&PTNT cho biết: Hiện cả nước có khoảng 600 cơ sở sản xuất phân bón, trong đó tỷ lệ cơ sở có nguồn vốn lớn và đầu tư công nghệ cao ít, đa số là sản xuất nhỏ lẻ, thủ công hay còn gọi là công nghệ cuốc xẻng”. Hơn nữa, số lượng phân bón trong danh mục lớn, hơn 6000 loại, trong khi chưa ban hành tiêu chuẩn kỹ thuật về chất lượng phân bón, tiêu chuẩn dinh dưỡng nên việc quản lý gặp nhiều khó khăn. Đây chính là một trong những nguyên nhân chính, một kẽ hở” để các cơ sở sản xuất phân bón nhỏ, lẻ đưa ra thị trường các loại phân bón giả, kém chất lượng để kiếm tiền trên lưng” nông dân thời gian qua. Thông tư 14/2011/TT-BNNPTNT ngày 29-3-2011 của Bộ NN&PTNT quy định việc kiểm tra đánh giá, phân loại cơ sở sản xuất kinh doanh vật tư nông nghiệp bao gồm: Thuốc bảo vệ thực vật, thức ăn chăn nuôi, chế phẩm sinh học, phân bón… và sản phẩm nông, lâm, thủy sản được coi là cây gậy” để các đơn vị chức năng và địa phương quản lý. Thế nhưng, đến nay việc triển khai thực hiện Thông tư 14 mới chỉ dừng lại ở một vài địa phương. Đến nay, cả nước chỉ mới có 8 tỉnh, thành phố báo cáo kết quả triển khai Thông tư 14, trong đó chỉ có 2 tỉnh tổ chức kiểm tra các cơ sở sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp, còn lại các địa phương khác vẫn bỏ ngỏ. Do đó, vật tư nông nghiệp, trong đó có phân bón giả, kém chất lượng vẫn còn có đất” để tồn tại, gây bức xúc cho người nông dân. Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Thị Xuân Thu cho rằng, đã đến lúc việc sản xuất phân bón cần phải hướng tới quy định là loại hình sản xuất có điều kiện hiện nay sản xuất phân vô cơ Bộ Công Thương quản lý, phân bón hữu cơ, vi sinh Bộ NN&PTNT quản lý-PV nhằm chấn chỉnh, ngăn ngừa tình trạng phân bón giả, phân bón kém chất lượng đưa ra thị trường gây thiệt hại cho người nông dân. Biện pháp này khi được triển khai áp dụng sẽ góp phần khuyến khích các cơ sở sản xuất phân bón lớn, đầu tư bài bản, sản xuất phân bón bảo đảm chất lượng cung ứng sản phẩm ra thị trường. Đây không chỉ là tín hiệu vui đối với người nông dân mà còn cả các cơ sở sản xuất phân bón làm ăn chân chính, uy tín bấy lâu nay mong chờ. NGHINH XUÂN. Xứng đáng là vai trò đầu tàu của ngành phân bón ° Ông có thể nói ngắn gọn về tính hiệu quả của Nhà máy Đạm Phú Mỹ kể từ khi được đưa vào vận hành sản xuất đến nay? - Tiến sĩ Nguyễn Xuân Thắng: Tháng 9-2004, sau một thời gian ngắn chạy thử, Nhà máy Đạm Phú Mỹ đã chính thức được bàn giao cho PVFCCo quản lý, vận hành và kinh doanh sản phẩm, với sản lượng đạt 740.000 tấn/năm, xác lập vai trò là một doanh nghiệp quy mô hàng đầu trong sản xuất, kinh doanh phân bón. Sự tham gia thị trường của PVFCCo đã thổi vào ngành phân bón một luồng gió mới, với tác động tích cực và đem lại sự thay đổi, đáp ứng những kỳ vọng của Chính phủ khi phê duyệt dự án. Đó là lần đầu tiên trong lịch sử thị trường phân đạm, nguồn cung ứng đã có sự tham gia của hàng sản xuất trong nước với một tỷ lệ thị phần cao, chất lượng đảm bảo và giá cả phù hợp. Trong giai đoạn 2005-2010, các hoạt động sản xuất, kinh doanh của PVFCCo đã được triển khai và gặt hái được những kết quả rất tốt. Năm 2005, 2006 đạt sản lượng 80%-90% theo thiết kế, đặc biệt trong 3 năm 2007-2009 đã sản xuất hơn 750.000 tấn urê, vượt sản lượng thiết kế/năm đồng thời thực hiện công tác nhập khẩu phân bón. Năm 2010, dự kiến sản lượng sản xuất và cung ứng cũng sẽ đạt từ 750.000 đến 1 triệu tấn. Về mặt thị trường, mạng lưới các đại lý và cửa hàng bán lẻ do các đơn vị thành viên của PVFCCo phát triển đã đạt con số trên 2.000 cửa hàng trên khắp các vùng miền trên cả nước. Tham gia vào khâu phân phối sâu rộng, PVFCCo hướng tới mục tiêu gia tăng chuỗi giá trị và phục vụ bà con nông dân một cách hiệu quả nhất.° Xin ông nói rõ hơn về vai trò của PVFCCo trong quá trình bình ổn thị trường phân bón?-Trong nửa đầu năm 2008, trước tình hình giá cả thị trường bất ổn, liên tục tăng cao, lãnh đạo Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và PVFCCo đã có những chỉ đạo để PVFCCo thể hiện vai trò của mình mạnh hơn nữa trong chương trình hành động kiềm chế lạm phát và bình ổn thị trường với những mục tiêu cụ thể: Tổ chức sản xuất an toàn và đạt tối đa sản lượng phân đạm, đẩy mạnh hoạt động nhập khẩu phân bón, tăng tổng nguồn cung ứng phân bón của PVFCCo lên trên 1 triệu tấn/năm, tổ chức mạng lưới phân phối sản phẩm sản xuất và nhập khẩu hợp lý, hiệu quả nhằm đưa sản phẩm đến các cửa hàng và bán cho bà con nông dân với giá niêm yết, thấp hơn giá nhập khẩu từ thị trường thế giới, nhằm hạn chế tình trạng mua bán qua nhiều tầng nấc trung gian. Năm 2008 PVFCCo đã đưa ra thị trường trong nước 741.000 tấn urê DPM và gần 200.000 tấn phân bón nhập khẩu. Tại các thời điểm giá cả tăng cao, nguồn cung DPM do PVFCCo sản xuất và lượng hàng nhập khẩu thường trực nhập về tại các kho luôn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu, đã giúp kiềm chế đà tăng giá bán phân bón trong nước, cụ thể là có thời điểm giá urê thị trường thế giới lên tới 13.000-14.000 đồng/kg thì giá bán DPM thấp hơn tới gần 40%. Mức giá bán công bố của PVFCCo đã bao gồm chi phí vận chuyển, bảo hiểm và chiết khấu cho các đại lý, cửa hàng. Đánh giá về tác dụng bình ổn giá của DPM, PVFCCo đã thống kê, theo dõi diễn biến thị trường từ cuối năm 2007 đến thời điểm sốt giá phân bón năm 2008 và thấy rằng giá bán của DPM có tăng theo xu thế chung của thị trường nhưng mức tăng giá thấp hơn mức tăng giá của urê nhập khẩu và nhiều loại phân bón khác. Nếu tính từ thời điểm xa hơn từ đầu năm 2007, thì mức tăng giá của DPM là thấp nhất trong thị trường phân bón. Điều đó cho thấy sự tham gia của DPM đã góp phần tích cực cho thị trường. Tiếp tục giữ vai trò nòng cốt trên thị trường phân bón.° Theo ông nhu cầu về phân bón trong giai đoạn 2010-2020 sẽ như thế nào? Và khả năng đáp ứng của PVFCCo ra sao?- Chính phủ và Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã quyết tâm đầu tư dự án bằng nội lực với mục tiêu và tầm nhìn chiến lược là đảm bảo an ninh lương thực về dài hạn cho đất nước. Phát huy thành quả từ dự án Nhà máy Đạm Phú Mỹ, ngành dầu khí Việt Nam tiếp tục đầu tư xây dựng Nhà máy Đạm Cà Mau với công suất tương đương, dự kiến đi vào sản xuất từ quý 1 năm 2012. Công tác quản lý, vận hành và kinh doanh phân phối sản phẩm của Nhà máy Đạm Cà Mau sẽ được giao cho PVFCCo đảm trách, với mục tiêu là sản phẩm phân đạm, một trong các sản phẩm chính của ngành dầu khí cung cấp cho đất nước, được cung ứng bởi hệ thống thống nhất của PVFCCo. Theo dự kiến, năm 2012, dự án Nhà máy Đạm Cà Mau đi vào sản xuất. Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã có chủ trương giao cho PVFCCo quản lý, vận hành và tổ chức kinh doanh, phân phối sản phẩm của nhà máy. Như vậy, đối với thị trường trong nước, PVFCCo tiếp tục khẳng định vai trò của nhà sản xuất và cung ứng phân đạm lớn nhất: 1.600.000 tấn ure/năm, có khả năng đáp ứng tới 80% nhu cầu thị trường trong nước. Năm 2013, dự kiến nhà máy sản xuất phân NPK chất lượng cao của PVFCCo cũng sẽ hoàn thành với khả năng cung ứng 400.000 tấn/năm, đáp ứng 15% nhu cầu thị trường.° Như vậy trong vòng 10 năm tới, PVFCCo sẽ tiếp tục giữ vai trò nòng cốt trên thị trường phân bón?-Với năng lực sản xuất như trên, rõ ràng là vai trò của PVFCCo đối với nông nghiệp tiếp tục được phát huy và khẳng định. Nếu như trong giai đoạn 2005-2010, sản phẩm đạm Phú Mỹ thể hiện vai trò của nhân tố mới trong thị trường, thì giai đoạn này, PVFCCo đóng vai trò của đơn vị sản xuất nòng cốt trong hoàn cảnh có nhiều nhà sản xuất phân đạm trong nước cùng với sản phẩm nhập khẩu từ nước ngoài. Kinh nghiệm tổ chức và quản lý sản xuất của PVFCCo trong giai đoạn vừa qua đã khẳng định năng lực của PVFCCo trong việc tổ chức vận hành 2 nhà máy đạm lớn có quy mô và công nghệ tương đương sẽ được đảm bảo. Khả năng sản xuất và cung ứng 1,6 triệu tấn đạm mỗi năm là điều gần như chắc chắn.PVFCCo sẽ cung cấp phân đạm với 2 dòng sản phẩm: ure hạt trong prill của Nhà máy Đạm Phú Mỹ và sản phẩm ure hạt đục granular của Nhà máy Đạm Cà Mau, chất lượng đạt các tiêu chuẩn sản phẩm của các nhà máy đạm công nghệ hàng đầu trên thế giới từ nguồn nguyên liệu khí thiên nhiên. Về giá cả, đạm Phú Mỹ và đạm Cà Mau được sự bảo đảm nguồn nguyên liệu là khí thiên nhiên từ Tập đoàn Dầu khí Việt Nam với giá cả hợp lý, quản lý sản xuất hiệu quả, sẽ đảm bảo duy trì giá thành sản xuất ở mức độ cạnh tranh trước sản phẩm nhập khẩu.Vai trò của PVFCCo đối với nền nông nghiệp đất nước, chính là biểu hiện điển hình cho mục tiêu thực hiện chính sách đưa sản phẩm công nghiệp từ nguồn nguyên liệu của ngành dầu khí để sản xuất phân bón phục vụ nền nông nghiệp, tăng cường mối liên kết và làm cầu nối liên minh công nông, thực hiện chính sách tam nông của Đảng và Nhà nước. PVFCCo tiếp tục khẳng định vai trò trên trong chiến lược phát triển của mình trong thời gian tới, với những thế mạnh trong khâu sản xuất, khâu phân phối. Thủy Mai .
II. Chứng nhận hợp quy Theo đúng như giấy chứng nhận hợp quy
2- Có cửa hàng hoặc địa điểm kinh doanh, ông Liebig vào năm 1884 đã phát hiện ra cơ sở để xác định được sự cân đối dinh dưỡng với một loại cây trồng chính là định luật tối thiểu. Nhiều năm qua Công ty Phân Lân Văn Điển đã cho ra đời dòng sản phẩm phân bón đa yếu tố chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng NPK Silic, ảnh minh họa nguồn: thuongmai.vn.. Năng suất lúa thu được cao hơn so với SX truyền thống có nơi đến 300%, cơ quan chống độc quyền của Nga đã buộc nhà sản xuất phân kali hàng đầu trong nước là Urallkali phải giảm giá trên thị trường nội địa sau một cuộc chiến pháp lý về chính sách thuế doanh nghiệp. Dự báo giá một số loại còn tiếp tục tăng trong thời gian gần, từ đó kiểm soát giá cả và chất lượng phân bón tốt hơn..Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Cẩm Tú: Muốn quản lý thị trường phân bón cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý gồm lực lượng Quản lý thị trường, Cảnh sát kinh tế, Hải quan… tại các địa phương. Thời gian tới, cơ quan quản lý cần thực hiện các giải pháp như: Hoàn thiện hệ thống pháp lý liên quan đến chất lượng phân bón, đưa phân bón vào sản phẩm kinh doanh có điều kiện, tăng cường kiểm tra- kiểm soát thị trường…. . TS Chu Văn Hách Hiện nay trên thị trường tràn ngập các loại phân bón. Nhiều nông dân không biết phải dựa trên điều kiện nào để chọn lựa sản phẩm và cách bón phân thích hợp cho cây trồng, mùa vụ để vừa tiết kiệm chi phí, vừa mang lại hiệu quả cao. NNVN đã trao đổi với TS Chu Văn Hách, Trưởng bộ môn Phân bón & kỹ thuật canh tác, Viện Lúa ĐBSCL về vấn đề này. Thưa TS, phải căn cứ những điều kiện chung nào để chọn phân bón thích hợp với việc trồng trọt? Đúng là hiện nay trên thị trường đã xuất hiện rất nhiều loại phân bón làm cho người dân băn khoăn không biết sử dụng loại nào tốt hơn loại nào? Tuy nhiên, trong đó vẫn duy trì rất nhiều loại phân thông dụng đã và đang được nhiều người quen dùng, các loại phân này được chia thành các nhóm như sau: 1 Nhóm phân đơn như: Urea; Urea46A+; Super lân; Lân Ninh Bình; Lân Long Thành; Kali clorua… 2 Nhóm phân phức hợp như: DAP 18-46-0; DAP 23-23-0… 3 Nhóm phân hỗn hợp như: NPK20-20-15; NPK16-16-8; NPK 20-15-7; NPK 18-4-20… Tiếp đến là một số dạng phân chuyên dùng khác cho từng loại cây trồng theo từng giai đoạn sinh trưởng của cây. Bên cạnh đó còn xuất hiện một số loại phân bón khác rất mới lạ có thể phù hợp với một vài loại cây trồng trên những loại đất đặc thù nào đó, nhưng hiệu quả có thể không cao với những loại cây trồng khác hoặc trên các vùng đất khác. Thực tế, mỗi loại cây trồng đều có nhu cầu phân bón khác nhau cả về số lượng cũng như chủng loại, thậm chí cùng một loại cây trồng nhưng nếu mùa vụ khác nhau hoặc trồng trên các loại đất khác nhau thì nhu cầu phân bón cũng khác nhau. Thời gian sinh trưởng khác nhau nên các giai đoạn sinh lý của cây trồng cũng khác nhau. Do đó, thời điểm bón phân cũng phải khác nhau theo từng chủng loại cây. Mặt khác, do mục đích thu sản phẩm khác nhau thì nhu cầu và chủng loại dinh dưỡng khoáng trong phân bón cũng khác nhau. Do vậy, với phân bón chỉ phát huy hiệu quả cao khi bón theo đúng các yêu cầu sau: - Đúng với từng loại cây trồng riêng biệt. - Phù hợp với từng chân đất cụ thể. - Đúng thời điểm cây cần. - Đúng với chủng loại và liều lượng phân bón. - Đúng cách bón. - Phù hợp với từng mùa vụ. - Phù hợp với điều kiện thời tiết, khí hậu từng vùng miền. Nói chung, khi sử dụng phân bón cho cây trồng bà con cần cân nhắc cho thật kỹ nên tuân thủ theo hướng dẫn của các nhà chuyên môn để nâng cao hiệu quả sử dụng, nghĩa là đầu tư một đồng vốn cho phân bón làm sao đạt được tiền lời cao nhất, đó là giải pháp sử dụng phân bón thông minh nhất. Thực hành biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón, theo ông nên hay không nên điều gì? Như trên tôi đã phân tích việc nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón cho cây trồng là giải pháp an toàn và hữu hiệu nhất. Trong thực hành biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón cho cây trồng, ngoài 7 yêu cầu nêu ở phần trên, cần quan tâm thêm tới các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón, như giảm thất thoát phân, đặc biệt là phân đạm. Lượng đạm thất thoát khi ta bón cho cây trồng rất cao, từ 50- 60% tổng lượng đạm bón vào đất; nếu quản lý kém có thể lượng phân mất đi còn cao hơn nữa. Nguyên nhân của thất thoát đạm khi bón vào đất là do bị bốc hơi Amonia; phản Nitrat hóa, trực đi sâu xuống dưới đất, bị đất cố định và do chảy tràn, trong đó do bị bốc hơi Amonia và phản Nitrat hóa là chính. Chúng ta hoàn toàn có thể giảm được một phần thất thoát trên bằng cách bón dúi sâu vào đất, dùng urea chậm tan hoặc dùng hóa chất để ức chế bốc hơi Amonia và phản Nitrat hóa. Trong thực tế, việc sử dụng hóa chất bọc urea để giảm thất thoát phân đạm đã được sử dụng ở 70 nước trên thế giới; đặc biệt các nước tiên tiến đều sử dụng rất phổ biến các sản phẩm này. Ở Việt Nam đã có Urea 46A+ là sản phẩm của urea phối trộn với Agrotain, có thể tiết kiệm được 25- 30% phân bón so với urea thường, bên cạnh đó còn có thêm các sản phẩm phân hỗn hợp khác có sử dụng Urea 46A+. Bên cạnh giải pháp giảm thất thoát phân bón thì việc lựa chọn phân bón phù hợp với cây trồng, mùa vụ và đất đai cũng là giải pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón cho cây trồng. Trong giải pháp này bà con cũng cần lưu ý, đối với việc sử dụng phân đơn thì bao giờ cũng rẻ nhất, kinh tế nhất, tuy nhiên việc tính toán lượng phân chính xác cũng gặp khó khăn cho người dân. Do vậy, theo tôi giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón cho cây là hoàn toàn hợp lý vì nó tiết kiệm được chi phí phân bón, tăng được lợi nhuận, mặt khác còn góp phần giảm ô nhiễm môi trường do dư thừa phân bón. Để đạt được mục tiêu SX nông nghiệp hàng hóa chất lượng cao, phân bón đóng vai trò như thế nào, thưa ông? Chúng ta không thể phủ nhận được vai trò của phân bón trong việc gia tăng năng suất cây trồng, tuy nhiên cũng cần phải cân nhắc kỹ khi đầu tư phân bón theo 2 khía cạnh cả về năng suất cũng như hiệu quả kinh tế xét về hiệu quả đồng vốn và lợi nhuận. Với người dân thường chỉ thiên nhiều về mặt hiệu quả nông học làm thế nào để đạt năng suất cao nhất mà ít quan tâm tới lợi nhuận. Để đạt được mục tiêu nông nghiệp chất lượng cao cần phải sử dụng phân bón hợp lý theo các tiêu chí đã nêu ở phần trên. Thưa ông, còn quy trình SX lúa an toàn theo hướng hữu cơ sinh học là như thế nào? Quy trình SX lúa an toàn theo hướng hữu cơ sinh học là tăng cường sử dụng phân bón và thuốc BVTV có nguồn gốc hữu cơ, hạn chế phân thuốc hóa học. Phương pháp canh tác hữu cơ có thể hiểu là toàn bộ vật tư phân bón, thuốc BVTV, các chế phẩm tăng trưởng… được sử dụng trong SX đều có nguồn gốc hữu cơ, sinh học thân thiện với môi trường. Các vật tư đầu vào của SX được chọn lựa và kiểm soát đủ tiêu chuẩn của SX hữu cơ thì sản phẩm đầu ra về cơ bản là an toàn. Chỉ có thể canh tác bằng phương pháp hữu cơ mới có thể đảm bảo có sản phẩm an toàn thực sự và ổn định. Các loại phân bón và chế phẩm theo tiêu chuẩn này sẽ thay thế các loại phân bón, chế phẩm hóa học và các phụ phẩm tự nhiên kém chất lượng. Xin ông cho nông dân một lời khuyên trong việc chọn và dùng phân bón? Trong sử dụng phân bón cho cây trồng, bà con cần lưu ý chọn đúng loại phân có uy tín thương hiệu trên thị trường ở chứng nhận, phân bón các đại lý cũng có uy tín thì sẽ tránh được phân giả hoặc phân chất lượng kém. Xin cảm ơn ông!. Theo thông tin mới nhận được thì hiện Cty đang nghiên cứu sử dụng cả hai hợp chất này vào trong một loại sản phẩm, hứa hẹn cho ra đời phân bón 2 trong 1” hiệu suất cao trong thời gian sắp tới.
DĐDN là đơn vị bảo trợ thông tin cho Hội chợ Giống cây trồng, vật nuôi, vật tư nông nghiệp và thương mại khu vực phía Bắc 2013. Cty CP Phân lân Văn Điển đang cung cấp cho thị trường trên 60 loại phân bón chuyên dùng cho từng loại đất, từng loại cây trồng theo từng thời điểm sinh trưởng. Sản phẩm phân chuyên dùng Văn điển SX trên nền lân Văn Điển đều chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng đa lượng, trung lượng, vi lượng cung cấp đồng thời, cân đối cho cây trồng. Lân Văn Điển là loại phân khoáng thiên nhiên không phải là phân hóa học nên thích hợp với việc canh tác nông sản sạch theo VietGAP, Global GAP. Bức tranh đen tốiThật buồn khi một DN đầu đàn như Đầu trâu Bình Điền mà các nhân viên trụ cột cứ lần lượt ra đi, bắt đầu từ Trưởng phòng Kinh doanh- một vị trí đầu não quyết định doanh số bán hàng, tiếp đến Trưởng phòng Tiếp thị rồi sau chót đến kế toán. Tất cả những cuộc chia tay đều bịn rịn vì họ đã có hơn chục năm chung lưng đấu cật, cống hiến tài trí, sức lực hết mình để gầy dựng nên một thương hiệu hàng đầu của ngành phân bón VN. Thế nhưng tình thế buộc họ phải chia tay vì thu nhập giảm theo doanh số và Cty của họ khó mà trụ vững được. Vết thương về lỗ lã năm ngoái quá nặng và hy vọng phục hồi vào năm 2009 này đang dần tan thành mây khói vì giá lúa, cà phê, giá phân ngoại nhập quá rẻ nên sản lượng bán ra cứ đuối dần.Không chỉ Bình Điền mà tất cả các đại gia phân bón đều khốn khó. Nói về chất lượng phân bón thì chưa thương hiệu nào sánh với Việt- Nhật, thế nhưng sản lượng bán ra năm nay của họ cũng chỉ gần bằng 70% so với các năm trước. Cty Phân bón Miền Nam có một hệ thống XN, được đầu tư hiện đại nhưng chung quy lại sản lượng bán ra chỉ quanh mức 70%. Có tin Ba Con Cò - một DN nước ngoài cũng đã bán lại Cty với giá bèo 10 triệu USD và nghe đâu DN mua lại làm nghề vận tải, họ mua NM Ba Con Cò không phải để SX phân bón mà chỉ dùng mặt bằng vì có cảng rất tiện lợi.Không chỉ có các DN phân bón NPK mà cả DN phân hữu cơ, không chỉ với các DN phân bón gốc mà cả với phân bón lá, không chỉ với DN lớn mà cả với DN vừa và nhỏ- khốn khó không chừa bất kỳ ai. H. Một kỹ sư xinh đẹp, trình độ khá lại đã có thời gian tu nghiệp tại Isarel vậy mà cũng phải rời Cty MX đang xúc tiến một sàn giao dịch bất động sản bên Q7 TPHCM. Khánh, giám đốc một Cty có sản phẩm K.Humate nổi tiếng một thời năn nỉ với nhà báo – Anh cho em khất món nợ 17 triệu tiền quảng cáo đấy nhé, phân bán ra không thu tiền được anh ạ. Phụng Hoàng, người rất có duyên trong phân phối phân bón cũng phải ngao ngán - Giỏi lắm thì chỉ thu hồi nợ vụ HT được 30%. Tất cả đều đứng ngắc, trừ một vài sản phẩm vi sinh.Sao nên cơ sựPhân tích kết cấu giá thành của Xí nghiệp CH, thuộc Cty Phân bón Miền Nam thấy giá trị phần tín dụng lên tới trên 300.000 đ/T sản phẩm. Tất cả mọi chuyện đều bắt đầu từ chuyện lạm phát, giảm phát, khủng hoảng tài chính thế giới và cơn sốt phân bón 2008, năm mà DPM cho mùa bội thu, ông trùm của những ông trùm” lỗ cả trên nghìn tỷ đồng vì mua phải những lô phân với giá 1.200 USD/T DAP, 800 USD/T Urê, 1.000 USD/T Kali.Mua về lúc giá cao, khi giá xuống bán ra không được nên buộc DPM phải xử lý chung nhan, phan bon từ từ theo kiểu bán bia kèm mồi”, bán urê nội giá rẻ nhưng kèm phân ngoại giá cao hơn, gần 1 năm rồi mà lượng phân trót dại lỡ nhập” vẫn chưa hết. Tưởng thế đã kinh, nhưng không, Lâm Thao mua mấy chục nghìn tấn lưu huỳnh với giá trên 1.000 USD/T nhưng chỉ 2 tháng sau giá chỉ còn 80 USD/T và hiện nay chưa tới 60 USD/T. Tương tự, tất cả các NM phân bón NPK, nhỏ thì lỗ năm bảy chục tỷ, trung trung thì trăm tỷ còn lớn thì bốc hơi cả ngàn tỷ chỉ trong vài tháng trời.Thiệt hại không dừng lại ở đó, khi thị trường lên cơn sốt thì đại lý cấp 1, cấp 2, cấp 3 thi nhau gom hàng, trữ hàng. Tất cả các NM chạy tốc lực hết công suất ngày đêm với chất lượng tèm tẹm”. Thuận mua vừa bán nhưng phân bón vẫn chất đầy trong kho, mấy tháng sau giá trị lô hàng chỉ còn phân nửa. Vẫn không bán được, vì cung vượt cầu, vì dân mất lòng tin với NPK nội địa, để lâu đóng cục, lại phải chở về tái chế, giá trị mười chỉ còn một hai, trong lúc lãi ngân hàng thì cứ chồng lên.Để SX bình thường, các NM buộc phải nhập nguyên liệu chí ít thì cũng đủ để SX đôi tháng, trong lúc giá thế giới cứ thi nhau giảm. Tháng 9/2008 là thời điểm các NM cần nhiều nguyên liệu nhất để chuẩn bị cho vụ ĐX cũng là lúc giá phân cao nhất với DAP lên tới 1300 USD/T, Urê – 800 USD/T và KCl – 1.000 USD/T nhưng đến quý 1/2009 giá chỉ còn 400 – 450 USD/T với DAP, 256 – 270 USD/T với Urê và 720 USD/T với KCL, đến quý 3 này giá DAP giảm tiếp chỉ còn 330 – 350 USD/T, Urê nhích lên 280-285 USD/T và KCl giảm chỉ còn 510-550 USD/T. So với đầu năm, giá NPK trong nước giảm tới 30% nhưng vẫn không kịp với mức giảm của phân đơn NK.Nhà nước có nên cứu?+ Nền công nghiệp phân bón non trẻ của chúng ta đang đứng trên bờ vực của sự phá sản. Vẫn biết rằng trong tình hình cả thế giới cùng in tiền, cùng lạm phát như hiện nay thì tất yếu giá phân bón sẽ phải lên lại nhưng đấy là lúc nào, năm nào thì không ai trả lời được. Vẫn sợ rằng, đến lúc đấy thì các cỗ máy đều đã hoen rỉ, nhân lực đã bị phân tán. + Phân bón NPK là một TBKT, phân hữu cơ là cực kỳ cần thiết cho nền SXNN thâm canh bền vững, điều đấy đã được minh chứng qua thành tựu xuất khẩu của lúa gạo, cà phê, cao su…Nông dân đã khó khăn trong việc tiếp cận với gói kích cầu, SXNN đi xuống thì việc sống dậy của các NM phân bón càng xa vời. .. Bộ Công thương chỉ đạo các nhà máy sản xuất bảo đảm tiến độ kế hoạch sản xuất phân urê và DAP để có đủ nguồn phân bón phục vụ cho sản xuất nông nghiệp năm 2013; có cơ chế phù hợp để điều hành, quản lý phân urê xuất nhập khẩu trên cơ sở bảo đảm cân đối cung cầu trong nước. Bộ NN&PTNT cho biết, nhu cầu phân bón hóa học cho sản xuất nông nghiệp năm 2013 cần khoảng 10,3 triệu tấn phân bón các loại. Trong đó có 2,2 triệu tấn phân urê, 850 nghìn tấn SA, 950 nghìn tấn kali, 900 nghìn tấn DAP, 3,8 triệu tấn NPK và 1,8 triệu tấn lân. Tuy nhiên, hiện nay sản xuất công nghiệp phân bón trong nước mới đáp ứng 77,6%, mỗi năm vẫn phải nhập khẩu 2,47 triệu tấn phân bón các loại. Giống lúa Bón lót Bón thúc đẻ nhánh Lúa thuần 200-300kg phân chuồng + 20-25kg phân ĐYT NPK 6.11.2 dạng trộn 3 hạt hoặc 20- 25 kg phân ĐYT NPK 5.10.3 dạng vê viên 10 - 12 kg phân ĐYT NPK 16.5.17 dạng trộn 3 hạt Lúa lai 200-300kg phân chuồng + 20-25kg phân ĐYT NPK 6.11.2 dạng trộn 3 hạt hoặc 20- 25 kg phân ĐYT NPK 5.10.3 dạng vê viên 12 - 15 kg phân ĐYT NPK 16.5.17 dạng trộn 3 hạt. Phương pháp công nghệ này đã được Cục Sở hữu Công nghiệp cấp bằng độc quyền Giải pháp hữu ích, đây là công nghệ tiên tiến phù hợp các nước đang phát triển.Đặc điểm của công trình khoa học công nghệ này là đa dạng hóa được các chủng loại sản phẩm trên nền tảng sử dụng được nhiều chủng loại nguyên liệu khác nhau, phù hợp với sự biến động của thị trường nguyên liệu trong nước. Việc đa dạng hóa sử dụng các nguồn nguyên liệu thể hiện tính thích nghi và khả năng ứng dụng tự động hóa trong công nghệ sản xuất, phù hợp với nền kinh tế thị trường hiện nay nhằm đảm bảo sản xuất ổn định và bền vững. Sản phẩm sản xuất bằng công nghệ tạo hạt thùng quay dùng hơi nước có tính vượt trội hơn so với công nghệ tạo hạt bằng đĩa quay sử dụng nước. Đây là công nghệ tiên tiến tại Việt Nam hiện nay, và CTCPPB&HCCT là đơn vị đầu tiên trong ngành Phân bón & Hóa chất Việt Nam đầu tư áp dụng.Từ cách đây khoảng chục năm, CTCPPB&HCCT đã phát huy nội lực, tự nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, lắp đặt một dây chuyền sản xuất phân bón NPK tạo hạt thùng quay dùng hơi nước công suất 30 nghìn tấn/ năm. Sau khi đưa vào vận hành sản xuất ổn định, Công ty đã tiếp tục hoàn thiện dây chuyền thiết bị và tiếp tục đầu tư lắp đặt dây chuyền số 2 từ năm 2000. Năm 2006, Công ty đã lắp đặt hệ thống lò đốt hơi và lò đốt sấy sử dụng bằng than song song với lò đốt dầu nhằm linh động trong sản xuất phù hợp với giá cả nhiên liệu trong từng thời điểm để mang lại hiệu quả kinh tế. Do đi đầu trong việc áp dụng công nghệ mới nên Công ty có ưu thế cạnh tranh về chất lượng sản phẩm nên đã phát triển được thị trường, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Qua thực tế doanh thu tiêu thụ từ năm 2006 đến 2008, thị trường có mức tăng trưởng bình quân là 20%/năm, kim ngạch xuất khẩu tăng 15- 20%/năm, minh chứng cho sự vượt trội của công nghệ và sản phẩm Công ty hoàn toàn có đủ sức cạnh tranh khi Việt Nam đã gia nhập WTO. Từ năm 2003 đến nay toàn bộ 2 dây chuyền sản xuất đã phát huy hết công suất, do vậy cho đến năm 2007 Công ty tiếp tục nghiên cứu thiết kế, chế tạo và đầu tư dây chuyền số 3 trên cơ sở nhà xưởng sản xuất phân bón NPK hỗn hợp đĩa quay dùng nước. Đến nay đã đưa sản lượng phân bón hỗn hợp NPK hơi nước toàn Công ty đến 150 nghìn tấn/ năm với vốn đầu tư khoảng 2 triệu USD ít hơn nhiều so với chuyển giao công nghệ, thiết bị từ nước ngoài, tới hàng chục triệu USD. Từ khi ra đời công nghệ mới, trong những năm qua luôn có những cải tiến và sáng tạo mới để hoàn thiện hơn về dây chuyền sản xuất, từ thực tế sản xuất của Công ty cho thấy sản phẩm tạo hạt bằng công nghệ hơi nước có các ưu điểm là chất lượng hoàn toàn ổn định, không gây thất thoát nhiều đạm trong quá trình sấy, tăng độ cứng và cường lực của hạt sản phẩm cao, hạn chế sự vỡ nát trong quá trình lưu kho và vận chuyển. Đa dạng hóa sản phẩm trên cơ sở dung được nhiều nguồn nguyên liệu trên dây chuyền sản xuất, điều đáng nói nữa là công trình đặc biệt chú ý quan tâm đến hệ thống xử lý các chất thải rắn, đảm bảo tỷ lệ hao hụt thấp và tính thân thiện với môi trường cao của công nghệ sản xuất phân hỗn hợp NPK STEAM” đạt yêu cầu của Tiêu chuẩn Việt Nam. Hiện nay sản phẩm này dần chiếm ưu thế và phát triển từ Đồng bằng sông Cửu Long đến thị trường Tây Nguyên và miền Đông Nam bộ đồng thời phục vụ cho việc xuất khẩu. Đồng thời góp phần chuyển thị hiếu của nông dân quen sử dụng phân NPK ba màu sang phân bón NPK hơi nước một màu đảm bảo được ổn định chất lượng sản phẩm./.. Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải phát biểu tại hội thảo. Sáng 18.6, tại Hà Nội, Bộ NNPTNT, Bộ Công Thương, Bộ Công an phối hợp với T.Ư Hội Nông dân, Hiệp hội Phân bón Việt Nam tổ chức Hội thảo quốc gia thực hiện Nghị định 202 của Chính phủ về quản lý phân bón và chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững. Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải dự và chủ trì hội nghị. Phân bón làm từ bột gạch, đá Ông Nguyễn Đình Hạc Thúy – Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Phân bón Việt Nam cho biết, tình trạng phân bón kém chất lượng, phân bón giả, nhái nhãn mác đến nay vẫn chưa được giải quyết tốt và số vụ vi phạm ngày càng gia tăng. Nếu năm 2008, cả nước có gần 100 công ty và tổ hợp sản xuất phân bón kém chất lượng bán ra trên 31 tỉnh, thành thì đến năm 2013, qua kiểm tra 4.689 vụ, lực lượng quản lý thị trường đã phát hiện tới 1.483 vụ vi phạm, tăng 31% so với năm 2012. Tiếp lời ông Thúy, ông Đỗ Thanh Lam – Phó Cục trưởng Cục Quản lý thị trường Bộ Công Thương cho biết: Chỉ tính riêng quý I, Cục đã phát hiện, xử lý 88 vụ vi phạm, chủ yếu là kinh doanh phân bón giả, kém chất lượng, phân bón quá hạn sử dụng, không thuộc danh mục được phép kinh doanh hoặc nhập lậu. Các vụ vi phạm tập trung nhiều ở khu vực Nam Bộ như An Giang, Long An, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Bến Tre… chiếm tới 84,1% vụ vi phạm kém chất lượng và 80% vụ vi phạm phân bón giả trên cả nước”. Một thực trạng đáng lo ngại cũng được chỉ ra, đó là trong các loại hàng hóa làm giả như thuốc tây, thuốc lá, bánh kẹo, hàng điện tử… thì phân bón dễ làm giả nhất; tỷ lệ phân bón kém chất lượng chiếm tới 60%. Nhiều cơ sở sử dụng công nghệ” làm phân bón bằng cuốc xẻng, máy trộn bê tông; có nơi còn lấy đất pha bột gạch, bột đá trộn làm phân bón. Vô cùng bức xúc trước tình trạng phân bón thật - giả lẫn lộn, ông Nguyễn Khang – Tổng Giám đốc Công ty CP Vật tư kỹ thuật nông nghiệp Bắc Giang cho biết: Tôi có hàng chục năm kinh doanh phân bón, tuy chưa phát hiện hàng giả nhưng sợ nhất là hàng kém chất lượng. Mặc dù là hàng thật, nhưng phân bón kém chất lượng còn nguy hiểm hơn cả hàng giả. Các công ty thường đánh lừa nông dân bằng mẫu mã, bao bì bắt mắt, trong khi thành phần dinh dưỡng phân bón bên trong chỉ bằng 1/10 so với chung nhan, phan bon ghi trên bao bì. Trong khi đó, ngành chức năng vẫn bó tay, không thể xử lý được tình trạng ghi nhập nhèm trên bao bì”. Cần làm chặt khâu hậu kiểm Nhận định về tình trạng làm giả phân bón hiện nay, ông Phùng Hà- Cục trưởng Cục Hóa chất Bộ Công Thương cho rằng, thời gian qua nạn phân bón giả xuất hiện ở tất cả các khâu, từ sản xuất, lưu thông đến xuất nhập khẩu là do điều kiện sản xuất, kinh doanh phân bón trước đây tương đối dễ dàng; hệ thống cơ quan quản lý chưa thực sự sát cánh, quyết tâm bắt tay dẹp nạn phân bón giả, kém chất lượng... Còn theo ông Lê Quốc Doanh – Thứ trưởng Bộ NNPTNT, trước đây do phân bón không phải là mặt hàng có điều kiện nên có quá nhiều DN tham gia sản xuất phân bón, với hơn 10.000 loại khác nhau, dẫn tới khó kiểm soát chất lượng. Để chấn chỉnh tình trạng trên, ngày 27.11.2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 202 nhằm góp phần siết chặt công tác sản xuất, kinh doanh phân bón. Tuy nhiên, có một nghịch lý là nghị định này chưa thể thực hiện được vì thiếu… Thông tư hướng dẫn. Ông Phùng Hà thừa nhận, thông tư hướng dẫn của 2 Bộ Công Thương và Bộ NNPTNT đều bị chậm so với tiến độ, do trong quá trình xây dựng dự thảo vấp phải nhiều khó khăn, dự kiến ngày 15.7 các thông tư mới chính thức ban hành. Ông Cao Hoài Dương – Tổng Giám đốc Tổng Công ty Phân bón và hóa chất dầu khí - Phó Chủ tịch Hiệp hội Phân bón thế giới cho rằng, để giải quyết vấn đề nhức nhối phân bón giả thời gian qua, công tác hậu kiểm đóng vai trò rất quan trọng. Chúng tôi thiết tha đề nghị các cơ quan quản lý phải làm thật chặt công tác hậu kiểm, lập lại trật tự ngành phân bón. Làm tốt khâu này thì phân bón giả, kém chất lượng sẽ không còn đất sống” – ông Dương khẳng định. Một vấn đề khác cũng cần lưu ý, theo ông Nguyễn Duy Lượng- Phó Chủ tịch Thường trực T.Ư Hội Nông dân Việt Nam, chế tài xử phạt vi phạm về sản xuất, kinh doanh phân bón thời gian qua còn rất nhẹ, chưa đủ sức răn đe. Do vậy tới đây, công tác quản lý phân bón cần thực hiện nghiêm túc theo Nghị định 202; kiên quyết xử lý các đối tượng sản xuất, vận chuyển, buôn bán phân bón giả, kém chất lượng. Các cán bộ, hội viên nông dân cũng cần phản ứng, lên án quyết liệt hành vi sản xuất, kinh doanh phân bón giả, kém chất lượng để bảo vệ quyền lợi của chính mình. Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải: Lãnh đạo địa phương chịu trách nhiệm về phân bón giả Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải nêu rõ: Việc đưa thêm điều kiện bắt buộc đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phân bón là cần thiết, đồng thời phải kiên quyết rút giấy phép kinh doanh vĩnh viễn đối với những cơ sở, doanh nghiệp vi phạm. Phải làm nghiêm thì đối tượng vi phạm mới sợ. Lực lượng quản lý thị trường cần thường xuyên kiểm tra, kiểm soát tình hình kinh doanh phân bón trên địa bàn, áp dụng nghiêm khắc các chế tài xử phạt chứ không được nhân nhượng. Đồng thời, Phó Thủ tướng cũng chỉ đạo: Phân bón giả được phát hiện ở địa phương nào thì lãnh đạo địa phương đó phải chịu trách nhiệm, không thể có chuyện doanh nghiệp làm ăn phi pháp mà lãnh đạo nơi đó không biết gì.
III. chứng nhận iso 9001 Theo đúng như giấy chứng nhận hợp quy
Quất, mai trụi trái, lá sau bón phân Để cây mai, quất ra được nhiều hoa, trĩu quả trong dịp tết, vào thời điểm này, người dân phải bón phân, thuốc để cây có sức ra nụ. Tuy nhiên, khi bà con sử dụng phân bón lá nhãn hiệu ANNONG GROW thì hai ngày sau lá mai rụng hoặc úa vàng, còn trái quất rụng trụi. Bà Phạm Thị Lý ở thôn Liên Trì 2, xã Bình Kiến, TP.Tuy Hòa cho hay: Gia đình tôi trồng mai hơn 17 năm với 1.000 chậu mai lớn-nhỏ. Nhưng chưa có năm nào mai bị thiệt hại như đợt này. Tôi mua phân bón lá ANNONG GROW hoa đồng loạt” của cơ sở bán phân, thuốc bảo vệ thực vật của bà Trương Thị Mỹ Lệ ở cùng thôn, đem về bón cho 400 gốc mai thì sau đó mai rụng trụi lá xanh”. Cây mai rụng trụi lá sau khi bón phân Hoa đồng loạt” Cũng ở tại thôn Liên Trì 2, đầu năm 2013, vợ chồng ông Kiều Văn Chí đầu tư mua 400 chậu quất chanh ghép lai, mỗi cây có giá 100.000 đồng, đem về trồng. Qua gần hai năm chăm sóc, đến nay quất cao phả đầu và ra trái non bằng ngón tay. Tuy nhiên, khi ông Chí mua phân bón lá ANNONG GROW cũng của cơ sở bà Trương Thị Mỹ Lệ - PV phun được 150 chậu thì hôm sau lá bị úa vàng, rụng trái và lá. Bây giờ, tôi không biết phải xoay xở thế nào vì còn nợ tiền phân, thuốc, trong khi cây quất chết nhiều!” - ông Chí tâm sự. Ông Đặng Thái Hoàng - Phó Chủ tịch UBND xã Bình Kiến - cho biết, sau khi nghe bà con phản ánh, chính quyền địa phương đã kiểm tra phân bón lá ANNONG GROW ghi do Công ty TNHH An Nông gia công đóng gói và Công ty TNHH Thành Huyền ở xã Bình Ngọc TP.Tuy Hòa cung ứng phân cho bà Trương Thị Mỹ Lệ, để bán lại cho người tiêu dùng. Trước mắt, thống kê có 3 hộ bị thiệt hại 710 chậu quất, mai. Hiện địa phương cũng đã báo cáo cho UBND TP.Tuy Hòa và các cơ quan chức năng để điều tra lại nguồn gốc, xuất xứ của loại phân bón lá trên để có biện pháp xử lý. Mù mờ bán và sử dụng phân, thuốc Hiện có hàng trăm nhà vườn trồng mai, quất tại vựa hoa” ở xã Bình Kiến. Nắm bắt được nhu cầu sử dụng phân, thuốc cho hoa ngày càng nhiều, các đại lý, cơ sở cung ứng phân, thuốc bảo vệ thực vật mọc lên như nấm! Và có nhiều người dân, dù không có bằng cấp chuyên môn, vẫn vô tư bán phân, thuốc, trong khi các cơ quan chức năng địa phương thì buông lỏng quản lý. Bà Phạm Thị Lý: Trên bao bì, nhà sản xuất đều in các loại hoa nên tôi mới dùng bón cho cây mai”. Bà Trương Thị Mỹ Lệ - người đã bán phân, thuốc cho một số hộ sử dụng bón cây mai, quất bị rụng lá, trái - thừa nhận: Tôi lấy thuốc từ Công ty TNHH Thành Huyền ở xã Bình Ngọc về bán hơn một tháng nay. Tôi mở tiệm phân, thuốc, nhưng cũng chưa đi học qua một lớp gì về các loại thuốc. Do vậy, việc bán thuốc chủ yếu dựa trên kinh nghiệm hàng chục năm trồng mai. Ai đến mua và yêu cầu loại phân, thuốc gì thì tôi bán, và cứ đọc trên hướng dẫn của bao bì mà sử dụng thôi!”. Người bán mù mờ công dụng các loại phân, thuốc, còn người tiêu dùng cũng không nắm bắt được kỹ thuật sử dụng với 5 nguyên tắc đúng” trong bón phân, thuốc. Trong khi nhà sản xuất phân, thuốc cũng đánh lận” người tiêu dùng khi in hàng loạt hoa trái ra hoa trên bao bì. Ông Kiều Văn Chí nói: Khi cần mua phân, thuốc về phun cho cây, tôi ra tiệm thuốc nói triệu chứng, sau đó người bán tự lấy thuốc bán rồi đem về phun”. Bà Phạm Thị Lý thừa nhận, khi ra tiệm thuốc trừ sâu của bà Trương Thị Mỹ Lệ bảo bán loại thuốc cho cây ra hoa đồng loạt thì bà Lệ bán cho bì phân bón lá ANNONG GROW hoa đồng loạt”. Khi hỏi vì sao trên bao bì ANNONG GROW hoa đồng loạt” hướng dẫn chỉ sử dụng phun cho cây xoài để kích thích cây ra lá non, đọt non đồng loạt, nhưng bà con lại dùng bón cho cây mai, quất? Bà Phạm Thị Lý phân trần: Trên bao bì, nhà sản xuất đều in các loại hoa như: Thanh long, bông lúa, hoa lan… nên tôi mới đem về bón dưới gốc mai để mong ra hoa nhiều, nhưng không ngờ bị rụng hết lá!”. Chiều 22.9, Báo Lao Động nhận được văn bản trả lời do ông Hoàng Hải - Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH An Nông tại Long An - ký, khẳng định: Người dân đã sử dụng sản phẩm Hoa đồng loạt” tưới trên cây mai không đúng theo hướng dẫn và khuyến cáo trên nhãn! Với cách trả lời của Cty An Nông thì không khác gì sư nói sư phải, vãi nói vãi hay”. Vậy công ty in những hình loại hoa trên bao bì làm gì để người dân căn theo sử dụng, dẫn đến thiệt hại mà Cty An Nông vẫn vô can. Chuyển phân bón vào kho ở Châu Phú, An Giang. Ảnh: Hữu DanhTăng mạnh nhập phân bón là chưa cần thiết”Ông Nguyễn Gia Tường - Phó Tổng giám đốc Vinachem Tập đoàn Hóa chất Việt Nam cho biết, để chuẩn bị cho vụ đông xuân, năm 2010 Vinachem sẽ sản xuất phân đạm urê gần 190.000 tấn, phân DAP gần 100.000 tấn, phân NPK năng lực khoảng 2,5-2,7 triệu tấn..., tương đương nhu cầu thị trường trong nước. Như vậy, khả năng thiếu phân bón chưa đến mức độ quá nghiêm trọng. Vinachem đã chỉ đạo tập trung sản xuất cho thị trường vào cuối năm.Tôi thấy nhiều đề nghị tăng mạnh nhập khẩu phân bón cuối năm, như NPK là không cần thiết. Chúng ta chỉ nên nhập khẩu sản phẩm VN chưa sản xuất được - ông Tường nói.Ông Nguyễn Hạc Thúy - Phó Chủ tịch Hiệp hội Phân bón VN cho rằng, nguyên nhân chính khiến giá phân bón trong nước tăng gần đây là do việc tăng giá phân bón từ Trung Quốc-thị trường nhập khẩu phân bón chính của VN-do tăng thuế xuất khẩu để đảm bảo lượng phân bón trong nước cho vụ mùa mới tại Trung Quốc. Nguyên nhân khác là do nhiều nhà máy sản xuất phân bón nghỉ để bảo dưỡng.Ông Nguyễn Hạc Thúy - Phó Chủ tịch Hiệp hội Phân bón VN cũng cho rằng, năm 2010, tổng nhu cầu phân bón cả nước ước tính khoảng 9,1 triệu tấn, sản xuất trong nước đã đạt trên 6 chung nhan, phan bon triệu tấn, đáp ứng được trên 67% tổng nhu cầu phục vụ sản xuất nông nghiệp, còn lại là nhập khẩu. Hiện sản xuất urê trong nước đã đáp ứng được khoảng 60%, phân DAP khoảng 15-20%; còn NPK, phân chứa lân đã đáp ứng đủ.Ông Thúy cho biết thêm, trong năm nay Trung Quốc có thể cắt giảm xuất khẩu phân bón để đẩy tăng nguồn cung trên thị trường nội địa và giảm giá hàng hóa tại nước này.Do giá phân bón Trung Quốc tăngBất kỳ động thái hạn chế xuất khẩu nào từ Trung Quốc cũng sẽ dẫn tới giảm cung trên toàn cầu và đẩy giá tăng lên. Giá urê của Trung Quốc đã tăng 56% lên 340-370 USD/tấn từ tháng 5-2010 đến nay và vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại. Giá phân Trung Quốc tăng sẽ làm cho giá phân bón trong nước tăng vì cuối năm VN tăng nhập khẩu phân bón từ thị trường này, chưa kể nước này tăng giá đồng nhân dân tệ càng làm giá phân bón VN tăng lên.Một nguyên nhân nữa là do nguồn cung nhập khẩu giảm mạnh. Theo số liệu của Bộ Công Thương, nhập khẩu phân bón của VN từ đầu năm 2010 đến nay liên tục biến động, giảm trong 6 tháng đầu năm, tăng mạnh lượng và trị giá nhập khẩu trong tháng 7 và tháng 8 và quay lại suy giảm tương đối mạnh trong tháng 9 và 10-2010. Nếu so với cùng kỳ năm ngoái thì nhập khẩu phân bón đã giảm 58,4% về lượng.Sản xuất phân bón trong nước từ đầu năm tới nay cũng giảm nhẹ. Chỉ đến tháng 10 lượng phân bón nội địa mới tăng lên do lo ngại thiếu phân bón và nhu cầu tiêu thụ tăng nên các doanh nghiệp rục rịch tăng sản xuất.Một quan chức của Bộ Công Thương cũng cho biết, nếu không có biện pháp quản lý tốt thì giá phân bón vụ đông xuân vẫn có thể biến động do các hoạt động đầu cơ, găm hàng của các đại lý, doanh nghiệp và tâm lý của nông dân.Theo ông Tường, việc yêu cầu đăng ký giá bán phân bón với doanh nghiệp sản xuất phân bón sẽ không giúp bình ổn thị trường vì bà con nông dân mua phân theo giá thị trường. Do vậy, hưởng lợi từ giá phân là ở trung gian tích trữ phân bón bán cho nông dân.Mai Hương. Hiện các tỉnh miền Bắc và miền Trung - Tây Nguyên đã bắt đầu xuống giống vụ đông xuân nên nhu cầu phân bón tăng cao hơn, tuy nhiên giá phân bón tại các vùng miền trong nước vẫn ổn định. Đạm Phú Mỹ có giá từ 10.500-10.600 đồng/kg, phân urê thấp hơn giá Đạm Phú Mỹ từ 150-200 đồng/kg. Dự báo, trong tháng 12, nhu cầu phân bón tiếp tục tăng do các địa phương đồng loạt xuống giống vụ đông xuân nhưng giá phân bón sẽ ổn định do nguồn cung dồi dào./. Việt Nga. Ấn tượng từ những con sốLà một doanh nghiệp trẻ của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, chỉ trong vòng 5 năm, Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí –PVFCCo mã chứng khoán DPM đã thể hiện được sức mạnh và vị thế của mình. Năm 2009, PVFCCo tiếp tục gặt hái được những thành quả cao trong các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư; tích cực thực hiện tham gia bình ổn giá phân đạm; hỗ trợ bà con nông dân phát triển nông nghiệp nước nhà. Có thể nói, năm 2009 là năm đánh dấu 5 năm Nhà máy Đạm Phú Mỹ đi vào vận hành ổn định, an toàn. Điều này được chứng minh bằng hiệu quả kinh tế mà PVFCCo đã mang lại cho xã hội với sản lượng cung ứng khoảng 50% tổng nhu cầu phân đạm của cả nước. Tổng doanh thu trong năm 2009 đạt 6.660 tỷ đồng; nộp ngân sách Nhà nước 250 tỷ đồng. Năm 2009 cũng là năm PVFCCo ghi dấu nhiều mốc son với những con số cực kỳ ấn tượng. Theo đó vào ngày 6-1-2009, PVFCCo đón nhận tấn Ure thứ 3 triệu tại Nhà máy Đạm Phú Mỹ. Ngày 3-2-2009, Nhà máy Đạm Phú Mỹ thuộc PVFCCo đã vinh dự đón nhận Huân chương Lao động hạng ba do Nhà nước trao tặng vì hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu sản xuất, kinh doanh với hiệu quả cao. Tổng công ty đã nhận Cúp Vàng chất lượng Việt Nam, ngày 29-5-2009, mã cổ phiếu DPM của PVFCCo được bình chọn là một trong những cổ phiếu vàng Việt Nam 2009 và được khẳng định là một trong những cổ phiếu dẫn dắt tốt nhất thị trường năm 2009 do hội đồng chuyên môn gồm những chuyên gia có uy tín trong lĩnh vực tài chính chứng khoán thực hiện. Đặc biệt, ngày 2-9-2009, nhân kỷ niệm 64 năm Quốc khánh nước CHXHCNVN, thương hiệu DPM của TCT đoạt giải thưởng Sao Vàng Đất Việt 2009 do Trung ương Hội các nhà Doanh nghiệp trẻ Việt Nam trao tặng và được bình chọn là một trong Top 10 thương hiệu mạnh Việt Nam. Có thể nói, qua 5 năm hoạt động, PVFCCo đã chủ động xây dựng phương thức sản xuất hợp lý, phù hợp với thời tiết của các vùng miền trên cả nước, nhằm kịp thời đưa phân bón đến tận tay người nông dân, hỗ trợ bà con đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp hiệu quả. Hiện nay, TCT đã xây dựng được mạng lưới tiêu thụ gồm 42 cửa hàng trực thuộc, 58 đại lý và hơn 3.650 cửa hàng bán lẻ trên toàn quốc. TCT cũng đã xây dựng được 11 cửa hàng đối chứng tại các vùng miền nhằm giúp người tiêu dùng phân biệt hàng thật, hàng giả khi mua hàng không đảm bảo chất lượng. Ngoài việc đầu tư, phát triển nhà máy, TCT còn rất quan tâm đến các chính sách an sinh xã hội, góp phần vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo mà Đảng và Nhà nước kêu gọi. Trong năm 2009, kinh phí cho chính sách an sinh xã hội của TCT đã tăng lên 102 tỷ đồng, là đơn vị thực hiện chương trình an sinh xã hội lớn nhất trong Tập đoàn Dầu khí VN, giúp cho thương hiệu PVFCCo trở nên là một thương hiệu thân thiện, vì cộng đồng và lan rộng khắp cả nước. Bắt tay cùng các nhà khoa học vì mục tiêu phát triển bền vữngTheo ông Phan Đình Đức, Tổng Giám đốc TCT, năm 2010 được dự đoán sẽ tiếp tục bị ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu với nhiều khó khăn và thách thức. Đẩy mạnh phát huy những thành quả đã đạt được của năm 2009, và hoàn thành kế hoạch năm 2010, tập thể Lãnh đạo và CBCNV PVFCCo cùng tiếp tục đồng tâm hiệp lực triển khai nhiệm vụ của TCT với khẩu hiệu Phát triển bền vững, hiệu quả và tiết kiệm”. Trong đó, TCT chú trọng giải pháp tiếp tục triển khai kinh doanh công tác xuất nhập khẩu phân bón có hiệu quả, góp phần bình ổn giá phân bón trong nước, đảm bảo an ninh lương thực. Triển khai xuất khẩu thử nghiệm phân bón sang thị trường Campuchia và các khu vực lân cận.Bên cạnh đó, để duy trì, giữ vững vị thế là một doanh nghiệp mạnh trên thị trường nội địa, TCT đã đề ra nhiệm vụ, giải pháp thực hiện trong năm 2010. Bao gồm: vận hành nhà máy đạm Phú Mỹ an toàn, ổn định, đảm bảo chất lượng sản phẩm; hoàn thiện mạng lưới kinh doanh kho đầu mối, hệ thống kho trung chuyển đảm bảo phục vụ hiệu quả hoạt động phân phối, kinh doanh phân bón trên thị trường; đẩy mạnh tiến độ triển khai dự án xây dựng cơ bản trong và ngoài nước, đảm bảo hiệu quả đầu tư; rà soát cơ cấu lại nguồn vốn, cơ cấu lại các danh mục sản phẩm sản xuất kinh doanh theo hướng tập trung vào các ngành nghề kinh doanh chính của đơn vị, điều chỉnh các định mức về lao động, định mức tiêu hao nguyên, nhiên, vật liệu để giảm chi phí, tăng năng suất lao động và hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả kinh doanh, năng lực cạnh tranh; triển khai phương án mua Nhà máy đạm Cà Mau.Cũng theo ông Phan Đình Đức, để tạo đà vững chắc cho việc mở rộng các dự án đầu tư mang tính chiến lược sống còn, TCT đã có rất nhiều cố gắng trong công tác đầu tư nghiên cứu khoa học và phát triển nguồn nhân lực. Một trong những bước đi cụ thể của PVFCCo là việc phối hợp chặt chẽ với các Viện, Trường đại học để hợp tác đào tạo nguồn nhân lực. Đầu năm 2009, PVFCCo đã ký kết hợp tác thỏa thuận với Đại học Cần Thơ nhằm thiết lập mối quan hệ hợp tác bền vững giữa hai đơn vị. Năm 2010, TCT tiếp tục đẩy mạnh sự hợp tác này, nhằm khẳng định sự đồng hành của PVFCCo và sự hỗ trợ của các nhà khoa học trong việc đưa sản phẩm phân bón chất lượng cao đến với bà con nông dân trên mọi miền tổ quốc. Thơ Hồng Thu .. Phân bón khép kín NPK-S Lâm Thao cho lúa vụ xuân năng suất cao, chống chịu sâu bệnh tốt Mô hình triển khai tại 2 điểm thuộc 2 huyện, gồm: Thôn Lam Điền xã Đông Động, huyện Đông Hưng 2 mô hình; xã Quang Bình, huyện Kiến Xương 1 mô hình. Mỗi mô hình 3ha, tổng diện tích thực hiện là 9ha. Quy trình bón phân được thục hiện theo quy trình bón phân khép kín của công ty: Bón lót: NPK-S5.10.3-8: 25kg/sào; bón thúc đẻ nhánh: NPK-S12.5.10-14: 9kg/sào; bón đón đòng: NPK-S12.5.10-14: 8kg/sào. Đối chứng theo tập quán bón phân thông thường ở địa phương. Trong suốt quá trình thực hiện mô hình, các cán bộ kỹ thuật của công ty kết hợp với Hội Nông dân tỉnh tổ chỉ đạo, theo dõi, đánh giá sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa, hướng dẫn bà con nông dân bón phân theo đúng quy trình kỹ thuật. Ngày 11.6, Hội Nông dân tỉnh phối hợp với Công ty cổ phần Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao tổ chức tổng kết mô hình tại xã Đông Động. Qua thực hiện mô hình trình diễn tại thôn Lam Điền đã đạt được kết quả cao, thể hiện: Ở giai đoạn mạ: Các giống trong mô hình và ngoài mô hình đều giống nhau, mạ khỏe, sức sinh trưởng tốt. Giai đoạn lúa cấy: Các giống lúa ở mô hình đẻ nhánh sớm, tập trung, lá xanh đẹp, lúa trỗ nhanh, gọn; các giống đối chứng đẻ nhánh không tập trung, lá xanh đậm hơn, thời gian lúa trỗ dài hơn, nhiều bông hơn nhưng tỷ lệ bông có số hạt dưới 100 hạt nhiều hơn, tỷ lệ lép cao hơn, số hạt chắc ít hơn. Mức độ sâu bệnh đều nhiễm nhẹ hơn so với đối chứng, đặc biệt là rầy nâu. Theo dõi trên giống lúa tại thôn Lam Điền cho thấy, trên nền phân bón NPK-S chuyên dụng của Lâm Thao, cây lúa phát triển cân đối, cứng, bộ lá khỏe, lúa đẻ tập trung hơn và tỷ lệ dảnh hữu hiệu cao hơn so với ruộng đối chứng. Số dảnh đẻ tối đa đếm được số bình quân tương đương ở cả nền dùng phân chuyên dụng và đối chứng, nhưng tỷ lệ hữu hiệu ở nền phân chuyên dùng NPK-S Lâm Thao cao hơn so với đối chứng. Cụ thể năng suất lúa giống BC15 tại thôn Lam Điền là 260 kg/sào, giống Q5 là 270kg/sào vùng đối chứng giống BC15 năng suất là 230kg/sào, giống Q5 năng suất là 240kg/sào. Trên nền phân bón NPK-S Lâm Thao cây lúa có sức chống chịu sâu bệnh hại ngoài đồng ruộng khá hơn, đặc biệt là bệnh đạo ôn và rầy. Kết quả cho thấy: Mô hình sử dụng phân bón NPK-S chuyên dụng Lâm Thao đều có các chỉ tiêu yếu tố cấu thành năng suất và năng suất tăng so với các ruộng sử dụng phân đơn. Mức tăng năng suất thực thu cuối cùng của mô hình bón phân NPK-S chuyên dụng so với phân đơn là 30kg lúa. Bà Trần Thanh Phong - Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Tiền Giang cho biết, mô hình trồng sầu riêng Ngũ Hiệp theo chuẩn VietGAP được bắt đầu từ năm 2011 với diện tích 10ha. Chương trình thu hút 40 hộ dân ở các ấp Tân Sơn, Hòa An và Hòa Hảo thuộc xã Ngũ Hiệp cùng tham gia. Theo tính toán, phương pháp sản xuất sầu riêng theo hướng VietGAP cho kết quả tốt trong những năm qua. Sau khi trừ chi phí thuốc BVTV, phân bón, công chăm sóc, mỗi ha trồng sầu riêng theo quy trình VietGAP cho nông dân thu lãi từ 300 - 400 triệu đồng, cao nhất từ trước tới nay. Thuận Hải. Vụ hè thu sắp sửa bắt đầu nên nhu cầu về phân bón sẽ tăng. Tuy nhiên, theo đại diện của nhiều doanh nghiệp, năm nay có khả năng một số địa bàn có thể sẽ xảy ra hiện tượng khan hiếm phân bón do khâu vận chuyển. Vậy, khâu cung ứng phân bón đang bị "ách" và "tắc" ở đoạn nào? Đủ lượng hàng cho mùa vụ Theo Bộ Công Thương, 4 tháng đầu năm, sản xuất phân bón trong nước tương đối ổn định, sản lượng phân đạm urê đạt 739.000 tấn, tăng 8,9%; Tập đoàn Hóa chất Việt Nam sản xuất đạt 544.000 tấn, tăng 6,7% so với cùng kỳ… Đóng gói sản phẩm phân đạm tại Công ty TNHH một thành viên Phân bón Dầu khí Cà Mau. Ảnh: Huy Hùng - TTXVN Giám đốc Nhà máy Đạm Cà Mau Văn Tiến Thanh chia sẻ: Vụ hè thu năm nay, đạm Cà Mau có kế hoạch cung ứng ra thị trường cả nước hơn 200.000 tấn sản phẩm, trong đó, khoảng 150.000 tấn tiêu thụ tại đồng bằng sông Cửu Long. Lượng hàng còn lại được cung cấp cho các địa phương ở khu vực Đông Nam Bộ, miền Trung, Tây Nguyên và miền Bắc. Ở khu vực phía Bắc, do chưa vào vụ sản xuất chính nên nhu cầu sử dụng phân bón chưa tăng. Tuy nhiên, các doanh nghiệp phân bón cũng đã chuẩn bị đủ lượng hàng để cung cấp cho bà con sản xuất. Bà Nguyễn Thị Toan, Trưởng phòng Thị trường, Công ty TNHH một thành viên Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc cho biết, công ty đang dự trữ khoảng 50.000 tấn. Công ty cổ phần Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao cũng đã chuẩn bị khoảng 400.000 tấn phục vụ sản xuất vụ hè thu sắp tới. Theo đại diện của một số công ty phân bón, lượng tiêu thụ đạm urê, DAP, NPK, SA đang tăng lên tại khu vực Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Đây là những sản phẩm phân bón chủ yếu để chăm sóc cho cây công nghiệp dài ngày, ngắn ngày và lúa vụ hè thu. Nhu cầu này cũng đang tăng mạnh tại các khu vực tập trung sản xuất vụ hè thu chính vụ như An Giang, Kiên Giang, Trà Vinh... Trước tình hình này, tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long, Nhà máy Đạm Phú Mỹ và Nhà máy Đạm Cà Mau thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã vận hành hết công suất để đáp ứng nhu cầu của thị trường. Vận chuyển gặp khó Tuy nhiên, cản trở theo như cách nói của doanh nghiệp lại nằm ở khâu vận chuyển, khi từ ngày 1/4, Bộ Giao thông Vận tải thực hiện việc siết chặt kiểm tra các loại xe quá tải trọng. Điều đáng nói là việc kiểm tra này là hoàn toàn cần thiết và nằm trong kế hoạch kiểm tra hàng năm của Bộ, nên doanh nghiệp không thể coi là "bất ngờ". Chỉ có điểm khác là mức độ về thời gian kiểm tra kéo dài hơn, cương quyết hơn. Tuy nhiên, trong giai đoạn vận chuyển cao điểm, và với thời gian kiểm tra gắt gao, không ít doanh nghiệp đã bị động, phải tìm hướng vận chuyển khác để giải tỏa nguồn cung của mình. Ông Nguyễn Duy Khuyến, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao, cho biết: Công ty đã chuẩn bị đủ lượng phân bón cho bà con, thậm chí còn phải ngừng sản xuất một số dây chuyền để giảm hàng tồn kho. Tuy nhiên, từ 1/4, tình hình vận chuyển phân bón của công ty cho nhiều khu vực trên cả nước gặp khó khăn. Công ty chưa thể huy động đủ lượng xe cần thiết để vận chuyển khối lượng hàng hóa lớn, dẫn tới một số khu vực sẽ có hiện tượng khan hiếm phân bón. Để giải quyết tình trạng này, công ty đang tìm mọi cách để vận chuyển phân bón về các vùng miền kịp thời vụ. Nếu trước đây, việc vận chuyển bằng đường bộ là chủ yếu thì nay, công ty cố gắng sử dụng tất cả các phương tiện từ đường sông, đường biển, đường sắt để có thể vận chuyển đủ khối lượng hàng theo nhu cầu của bà con. Tuy nhiên, điều này khiến chi phí vận chuyển tăng lên đáng kể. Với việc giá cước vận tải tăng lên, phía Công ty cổ phần Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao đã phải tiết kiệm sản xuất và giảm lương của người lao động để có tiền hỗ trợ cước vận chuyển từ 400.000 - 500.000 đồng/tấn phân bón đến các vùng xa, đặc biệt là các tỉnh miền núi. Tuy nhiên, việc hỗ trợ, bù giá từ phía doanh nghiệp cũng chỉ đến một chừng mực, còn lại người tiêu dùng cũng phải "gánh" một phần, cho nên giá phân bón có thể tăng lên! Bà Nguyễn Thị Toan, Công ty TNHH một thành viên Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc, cho biết: Gần 2 tháng nay, công ty gặp nhiều khó khăn do hàng loạt các nhà xe vận chuyển hàng đơn phương chấm dứt hợp đồng với công ty để nghe ngóng” động thái kiểm tra, kiểm soát xe quá khổ, quá tải của các lực lượng chức năng. Điều này khiến việc vận chuyển sản phẩm của doanh nghiệp đến nơi tiêu thụ gặp trở ngại, dẫn tới nguy cơ” doanh nghiệp không đảm bảo thời gian cung cấp phân bón cho các đại lý. Đứng trước khó khăn của các doanh nghiệp, Bộ Giao thông Vận tải đã chỉ đạo các đơn vị của Bộ như: Tổng cục Đường bộ Việt Nam, Cục Đường thủy nội địa, Cục Hàng hải, Cục Hàng không, Tổng công ty đường sắt Việt Nam và các đơn vị kinh doanh vận tải khối lượng lớn,... Tăng cường thực hiện các giải pháp đồng bộ để nâng cao năng lực vận tải, giảm áp lực cho vận tải đường bộ, thiết lập lại thị trường vận tải bình đẳng với cơ cấu thị phần hợp lý giữa các phương thức. Quang Toàn. DẠNG AMÔN THẤT THOÁT NHIỀU HƠN DẠNG NITRATNghiên cứu của Dobermann & Fairhurst cho thấy, để có năng suất 6T/ha, cây lúa cần 162kg N/ha, trong đó có 115kg N từ phân bón, 2kg N từ nước mưa, 5kg N từ nước tưới và 40kg N từ cố định khí N2. Tuy nhiên cây chỉ sử dụng 63kg N cho hạt lúa, 40kg N cho rơm rạ, còn lại 60kg N bị thất thoát do trực di 10kg và bay hơi 50kg. Với dạng đạm Amôn, sự thất thoát là do quá trình bay hơi khi NH4+ chuyển đổi thành NH3 khí amoniac. Còn với đạm Nitrat, sự thất thoát là do quá trình khử nitrat: NO3- NO2- N2O N2. Con đường thất thoát nào xảy ra mạnh hơn?Hiện tượng bay hơi NH3 xảy ra ngay sau khi chúng ta bón urê hay đạm amôn vào ruộng. Sự thất thoát này phụ thuộc vào nhiệt độ, gió và đặc biệt là độ pH của nước ruộng. Ban ngày khi tảo quang hợp thì pH tăng, làm tăng sự mất đạm; ban đêm, lúc tảo hô hấp thì pH giảm, sự mất đạm cũng giảm theo. Việc rải phân vào những chân ruộng cạn, có mật độ thực vật thủy sinh cao, ánh sáng dối dào có thể làm thất thoát đến 60% lượng đạm amôn do bay hơi NH3.Quá trình khử Nitrat trong ruộng lúa diễn ra chậm hơn và xảy ra ở tầng đất khử cách lớp đất mặt chừng 0,5 – 1 cm và dày từ 10 – 20 cm, do hoạt động của các vi sinh vật. Đất càng yếm khí thì quá trình khử diễn ra càng mạnh, do vậy có một số người tưởng rằng nếu sử dụng đạm amôn hay urê sẽ tránh được hiện tượng khử nitrat và từ đó giảm được sự mất đạm. Trên thực tế thì sự thất thoát đạm qua con đường khử Nitrat ít hơn và chậm hơn so với dạng amôn. Đặc biệt, dạng đạm Nitrat lại thích hợp cho cây lúa ở giai đoạn cây cần nhu cầu đạm cao, như giai đoạn làm đòng, do đó lượng đạm thất thoát qua con đường khử nitrat là rất ít. Khảo sát của các nhà khoa học IRRI trên phân urê và KNO3 năm 1990 và 1991 cho thấy, sau 11 ngày, 50% lượng phân đạm Amôn bón vào ruộng bị mất do bay hơi NH3, trong khi đó lượng N bị mất do khử Nitrat chỉ vào khoảng 20%.CÂY SỬ DỤNG NITRAT NHIỀU HƠN AMÔNNghiên cứu trên cây lúa trồng trong chậu của Kronzucker công bố năm 2000 cho thấy khẩu vị cây lúa thích dạng đạm NO3- hơn NH4+. Trong điều kiện nồng độ NO3- và NH4+ như nhau và trong cùng thời gian, thì lượng NO3- đi vào rễ của giống lúa IR72 bốn tuần tuổi cao gần gấp đôi so với lượng NH4+. Nghiên cứu của Duan năm 2007 cho biết thêm, chính sự có mặt của NO3- đã kích thích cây hấp thu NH4+ nhiều hơn 20-30%.Ngoài ra ở môi trường nhiễm mặn, các nghiên cứu của nhiều tác giả trên hầu hết các loại cây đều cho thấy dạng đạm Nitrat có tác dụng tích cực làm giảm chung nhan, phan bon sự hấp thu Clo, trong lúc dạng Amôn lại làm tăng khả năng hấp thu Clo, do vậy bón phân đạm dạng nitrat có bổ sung canxi sẽ giúp giảm thiểu tác hại của mặn và tăng chất lượng nông sản.ỨNG DỤNG TRONG SẢN XUẤTMặc dù cần có nhiều nghiên cứu sâu hơn để giải thích rõ ràng những biểu hiện trên, nhưng kết quả sơ bộ của những thí nghiệm đã chứng tỏ việc sử dụng phối hợp giữa 2 dạng đạm Nitrat và Amôn chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả cao hơn so với sử dụng từng dạng riêng lẻ. Tập đoàn Yara đã tiên phong trong lĩnh vực này, bằng cách sản xuất ra những loại phân chứa cả 2 dạng đạm như nhóm sản phẩm YaraMila, YaraMila Winner, YaraMila Grower, YaraMila Unik15 để sử dụng cho nhiều loại cây trồng, trong đó có cây lúa. Kết quả bón phân theo quy trình Yara khuyến cáo cho cây lúa nước, với các loại phân chứa đạm Nitrat có bổ sung canxi tại các nước châu Á như Indo, Thái Lan, Ấn Độ, Philippine và Việt Nam đều ghi nhận mức tăng năng suất từ 10 - 20% so với đối chứng. Biểu hiện rõ nhất của các kết quả này là rễ phát triển mạnh hơn, khả năng chống lốp đổ tốt, ít bị sâu bệnh, giảm hiện tượng ủ lá chân, bông lúa to và tỉ lệ hạt chắc cao hơn. Hợp quy phân bón TIN LIÊN QUAN Đạm Cà Mau đẩy mạnh tiêu thụ tại thị trường Campuchia Đạm Cà Mau: Chuyện người tiên phong Chốt phiên IPO lớn nhất năm, nhà nước thu gần 1.600 tỷ. Tiềm năng lớn Đó là khẳng định của ông Lê Quốc Phong, TGĐ Cty Bình Điền khi nói về thị trường phân bón hiện nay tại Myanmar. Bình Điền sớm nhận ra điều này ngay sau khi đất nước Myanmar mở cửa hội nhập với thế giới”. Myanmar có 10 triệu ha trồng lúa. Những năm 50 của thế kỷ trước, đất nước này từng dẫn đầu thế giới về XK gạo, với lượng xuất trên 3 triệu tấn/năm; nhưng do nhiều nguyên nhân, lượng XK gạo của nước này chựng lại. Năm 2012 chỉ còn xuất được 1,5 triệu tấn gạo và 2 triệu tấn đậu các loại. Quyết tâm của Chính phủ trong thời gian tới phải đưa Myanmar trở lại TOP đầu những nước XK gạo trên thế giới”, ông Myo Aung Kyaw, Tổng Thư ký Hiệp hội lúa gạo, Tổng Đại lý phân bón Đầu Trâu tại Myanmar nói. Cũng theo ông Myo, mỗi năm Myanmar cần cả chục triệu tấn phân bón, trong khi năng lực SX trong nước rất yếu, chỉ đạt khoảng 400 ngàn tấn/năm, còn lại phải nhập khẩu từ Trung Quốc, Đức, Thái Lan… Vậy làm sao Đầu Trâu có thể nhảy vào”? Ông Phong cho biết: Bình Điền không sợ vì phân bón Đầu Trâu có nét riêng, có sản phẩm chuyên dùng với những hoạt chất độc quyền như chất chống thất thoát đạm Agrotain, chất tăng hiệu quả sử dụng lân Avail, chất Penac P giúp cây tăng cường phát triển bộ rễ, chống lại điều kiện bất lợi như giá lạnh, hạn hán… rồi đầy đủ các chất trung, vi lượng cần thiết cho từng loại, từng giai đoạn sinh trưởng của cây trồng. Bình Điền không chỉ bán phân bón, mà còn là nhà cung cấp cả một giải pháp trong SX nông nghiệp, giúp nông dân canh tác ngày càng hiệu quả…”. Đi từng bước chắc chắn Với kinh nghiệm được đúc rút từ những thành công tại Campuchia và Lào, quan điểm mà lãnh đạo, TGĐ Cty Bình Điền đặt ra với thị trường phân bón Myanmar là phải đến trước, phải là người đầu tiên cắm lá cờ phân bón Việt Nam tại đây, nhưng lại không vội vã. Năm 2012, bắt đầu bằng đoàn nhiều nhà khoa học chuyên ngành về đất, phân bón như PGS.TS Phạm Văn Dư, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt; PGS.TS Mai Thành Phụng, Trưởng cơ quan đại diện phía Nam của Trung tâm KNQG, TS Nguyễn Đăng Nghĩa, GĐ Trung tâm Nghiên cứu đất, phân bón & môi trường phía Nam; GS.TS Mai Văn Quyền, nguyên Phó Viện trưởng Viện KHKT nông nghiệp miền Nam, Chủ tịch Hội đồng cố vấn KHKT Cty Bình Điền…cùng đoàn xúc tiến thương mại TPHCM bay sang Yangon, thủ đô Myanmar. Tại đây Bình Điền đã tổ chức một cuộc hội thảo, giới thiệu các sản phẩm phân bón chất lượng cao của mình trước gần 100 cử tọa là cán bộ chuyên ngành nghiên cứu về đất, phân bón, các cục, viện thuộc Bộ Nông nghiệp & thủy lợi Myanmar cùng 50 đại lý phân bón trên cả nước và đã lựa chọn được đối tác làm Tổng đại lý phân phối độc quyền phân bón Đầu Trâu. Đó là ông Myo, Tổng Thư ký Hiệp hội lúa gạo Myanmar và Viện Nghiên cứu về đất, phân bón, khu SX lúa công nghệ cao với tên gọi Cánh đồng của Tổng thống”, của Bộ Nông nghiệp & thủy lợi, cùng hàng chục điểm SX đối chứng trên các vùng sinh thái điển hình của đất nước Myanmar. Các nhà khoa học VN do Bình Điền tổ chức đã khảo sát kỹ lưỡng sinh thái các vùng đất và đưa 20 tấn sản phẩm đã tới 3 khu vực SX thực nghiệm, với hàng chục điểm trình diễn đối chứng trên lúa mùa, lúa lai và lúa cao sản, được giới khoa học và nhà nông nhiệt tình hưởng ứng. Đến nay, qua 3 vụ SX, kết quả đạt được rất đáng phấn khởi. Năng suất lúa thu được cao hơn so với SX truyền thống có nơi đến 300%, có nơi 150%... Tính trung bình là 35%. Chi phí SX không tăng nhiều so với cách SX truyền thống. Nông dân tham gia mô hình rất phấn khởi. Bà Daw Htwe ở làng Ahlyinlo Village, ngoại ô Nay Pyi Taw sở hữu 10 ha trồng lúa, sau một vụ tham gia SX thử nghiệm đối chứng với phân bón Đầu Trâu, đã tỏ ra sốt ruột, đề nghị Bình Điền đưa ngay phân bón Đầu Trâu sang. Về thủ tục pháp lý, Bình Điền mời ông Myo sang Việt Nam gặp gỡ lãnh đạo, thăm các nhà máy SX của Bình Điền và nhiều cánh đồng mẫu lớn mà Bình Điền tham gia tại ĐBSCL đang SX rất hiệu quả. Tiếp đó là những chuyến viếng thăm, chào hỏi Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp & thủy lợi Myanmar, gặp gỡ các cơ quan chuyên ngành, các viện nghiên cứu nông lâm nghiệp, ký kết hợp đồng ghi nhớ với đối tác và đăng ký bản quyền lưu hành 7 sản phẩm phân bón Đầu Trâu trên lãnh thổ Myanmar, gồm: Đầu Trâu lúa 1, Đầu trâu lúa 2, Đầu Trâu tăng trưởng, Đầu Trâu chắc hạt, Đầu Trâu 215, 16-16-8 +9S+TE, Đạm hạt vàng 46A+, DAP 46P+. Tập huấn đại lý, bước chuẩn bị quan trọng Đại lý là người trực tiếp với nông dân nên việc tập huấn cho đại lý trở nên chuyên nghiệp, có đủ kiến thức, kinh nghiệm trồng trọt, thương mại được Bình Điền ưu tiên. Các bài giảng do các Giáo sư, Tiến sỹ của VN phụ trách đã mang lại hiệu quả cao. Bà Su Su Win, GĐ Viện Nghiên cứu về đất, phân bón Bộ Nông nghiệp & thủy lợi Myanmar ngạc nhiên: Lần đầu tiên tôi được dự một lớp học như thế này. Nó rất tốt cho những người phân phối phân bón”. Ông U Thein Win ở Nay Pyi Taw nói: Chưa biết gì về phân bón Đầu Trâu, nhưng qua lớp học này thì hiểu và rất thích, tôi về sẽ đăng ký bán hàng này ngay và hướng dẫn nông dân sử dụng”. Khi kết thúc lớp học thì chuyến hàng 500 tấn sản phẩm phân bón đầu tiên của Bình Điền cũng đã vừa cập cảng Myanmar. Có chủ đại lý xin nhận cả lô hàng, nhưng ông Myo không chịu, phải để chia đều cho các nơi. Để bảo đảm đủ phân bón cho vụ hè thu và có sản phẩm gối đầu cho vụ mùa ở miền Bắc, các doanh nghiệp phân bón vẫn phải duy trì và đẩy mạnh sản xuất, nhất là sản xuất phân đạm u-rê; đồng thời tiếp tục tham gia cùng Chính phủ thực hiện tốt chính sách kích cầu đầu tư, tiêu dùng, duy trì mức tăng trưởng kinh tế; đẩy mạnh xúc tiến thương mại, hướng tới xuất khẩu phân bón sang các thị trường tiềm năng trong khu vực ASEAN và châu Á như Lào, In-đô-nê-xi-a, Phi-líp-pin, Hàn Quốc, Nhật Bản…Mai Linh. Xứng đáng là vai trò đầu tàu của ngành phân bón ° Ông có thể nói ngắn gọn về tính hiệu quả của Nhà máy Đạm Phú Mỹ kể từ khi được đưa vào vận hành sản xuất đến nay? - Tiến sĩ Nguyễn Xuân Thắng: Tháng 9-2004, sau một thời gian ngắn chạy thử, Nhà máy Đạm Phú Mỹ đã chính thức được bàn giao cho PVFCCo quản lý, vận hành và kinh doanh sản phẩm, với sản lượng đạt 740.000 tấn/năm, xác lập vai trò là một doanh nghiệp quy mô hàng đầu trong sản xuất, kinh doanh phân bón. Sự tham gia thị trường của PVFCCo đã thổi vào ngành phân bón một luồng gió mới, với tác động tích cực và đem lại sự thay đổi, đáp ứng những kỳ vọng của Chính phủ khi phê duyệt dự án. Đó là lần đầu tiên trong lịch sử thị trường phân đạm, nguồn cung ứng đã có sự tham gia của hàng sản xuất trong nước với một tỷ lệ thị phần cao, chất lượng đảm bảo và giá cả phù hợp. Trong giai đoạn 2005-2010, các hoạt động sản xuất, kinh doanh của PVFCCo đã được triển khai và gặt hái được những kết quả rất tốt. Năm 2005, 2006 đạt sản lượng 80%-90% theo thiết kế, đặc biệt trong 3 năm 2007-2009 đã sản xuất hơn 750.000 tấn urê, vượt sản lượng thiết kế/năm đồng thời thực hiện công tác nhập khẩu phân bón. Năm 2010, dự kiến sản lượng sản xuất và cung ứng cũng sẽ đạt từ 750.000 đến 1 triệu tấn. Về mặt thị trường, mạng lưới các đại lý và cửa hàng bán lẻ do các đơn vị thành viên của PVFCCo phát triển đã đạt con số trên 2.000 cửa hàng trên khắp các vùng miền trên cả nước. Tham gia vào khâu phân phối sâu rộng, PVFCCo hướng tới mục tiêu gia tăng chuỗi giá trị và phục vụ chung nhan, phan bon bà con nông dân một cách hiệu quả nhất.° Xin ông nói rõ hơn về vai trò của PVFCCo trong quá trình bình ổn thị trường phân bón?-Trong nửa đầu năm 2008, trước tình hình giá cả thị trường bất ổn, liên tục tăng cao, lãnh đạo Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và PVFCCo đã có những chỉ đạo để PVFCCo thể hiện vai trò của mình mạnh hơn nữa trong chương trình hành động kiềm chế lạm phát và bình ổn thị trường với những mục tiêu cụ thể: Tổ chức sản xuất an toàn và đạt tối đa sản lượng phân đạm, đẩy mạnh hoạt động nhập khẩu phân bón, tăng tổng nguồn cung ứng phân bón của PVFCCo lên trên 1 triệu tấn/năm, tổ chức mạng lưới phân phối sản phẩm sản xuất và nhập khẩu hợp lý, hiệu quả nhằm đưa sản phẩm đến các cửa hàng và bán cho bà con nông dân với giá niêm yết, thấp hơn giá nhập khẩu từ thị trường thế giới, nhằm hạn chế tình trạng mua bán qua nhiều tầng nấc trung gian. Năm 2008 PVFCCo đã đưa ra thị trường trong nước 741.000 tấn urê DPM và gần 200.000 tấn phân bón nhập khẩu. Tại các thời điểm giá cả tăng cao, nguồn cung DPM do PVFCCo sản xuất và lượng hàng nhập khẩu thường trực nhập về tại các kho luôn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu, đã giúp kiềm chế đà tăng giá bán phân bón trong nước, cụ thể là có thời điểm giá urê thị trường thế giới lên tới 13.000-14.000 đồng/kg thì giá bán DPM thấp hơn tới gần 40%. Mức giá bán công bố của PVFCCo đã bao gồm chi phí vận chuyển, bảo hiểm và chiết khấu cho các đại lý, cửa hàng. Đánh giá về tác dụng bình ổn giá của DPM, PVFCCo đã thống kê, theo dõi diễn biến thị trường từ cuối năm 2007 đến thời điểm sốt giá phân bón năm 2008 và thấy rằng giá bán của DPM có tăng theo xu thế chung của thị trường nhưng mức tăng giá thấp hơn mức tăng giá của urê nhập khẩu và nhiều loại phân bón khác. Nếu tính từ thời điểm xa hơn từ đầu năm 2007, thì mức tăng giá của DPM là thấp nhất trong thị trường phân bón. Điều đó cho thấy sự tham gia của DPM đã góp phần tích cực cho thị trường. Tiếp tục giữ vai trò nòng cốt trên thị trường phân bón.° Theo ông nhu cầu về phân bón trong giai đoạn 2010-2020 sẽ như thế nào? Và khả năng đáp ứng của PVFCCo ra sao?- Chính phủ và Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã quyết tâm đầu tư dự án bằng nội lực với mục tiêu và tầm nhìn chiến lược là đảm bảo an ninh lương thực về dài hạn cho đất nước. Phát huy thành quả từ dự án Nhà máy Đạm Phú Mỹ, ngành dầu khí Việt Nam tiếp tục đầu tư xây dựng Nhà máy Đạm Cà Mau với công suất tương đương, dự kiến đi vào sản xuất từ quý 1 năm 2012. Công tác quản lý, vận hành và kinh doanh phân phối sản phẩm của Nhà máy Đạm Cà Mau sẽ được giao cho PVFCCo đảm trách, với mục tiêu là sản phẩm phân đạm, một trong các sản phẩm chính của ngành dầu khí cung cấp cho đất nước, được cung ứng bởi hệ thống thống nhất của PVFCCo. Theo dự kiến, năm 2012, dự án Nhà máy Đạm Cà Mau đi vào sản xuất. Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã có chủ trương giao cho PVFCCo quản lý, vận hành và tổ chức kinh doanh, phân phối sản phẩm của nhà máy. Như vậy, đối với thị trường trong nước, PVFCCo tiếp tục khẳng định vai trò của nhà sản xuất và cung ứng phân đạm lớn nhất: 1.600.000 tấn ure/năm, có khả năng đáp ứng tới 80% nhu cầu thị trường trong nước. Năm 2013, dự kiến nhà máy sản xuất phân NPK chất lượng cao của PVFCCo cũng sẽ hoàn thành với khả năng cung ứng 400.000 tấn/năm, đáp ứng 15% nhu cầu thị trường.° Như vậy trong vòng 10 năm tới, PVFCCo sẽ tiếp tục giữ vai trò nòng cốt trên thị trường phân bón?-Với năng lực sản xuất như trên, rõ ràng là vai trò của PVFCCo đối với nông nghiệp tiếp tục được phát huy và khẳng định. Nếu như trong giai đoạn 2005-2010, sản phẩm đạm Phú Mỹ thể hiện vai trò của nhân tố mới trong thị trường, thì giai đoạn này, PVFCCo đóng vai trò của đơn vị sản xuất nòng cốt trong hoàn cảnh có nhiều nhà sản xuất phân đạm trong nước cùng với sản phẩm nhập khẩu từ nước ngoài. Kinh nghiệm tổ chức và quản lý sản xuất của PVFCCo trong giai đoạn vừa qua đã khẳng định năng lực của PVFCCo trong việc tổ chức vận hành 2 nhà máy đạm lớn có quy mô và công nghệ tương đương sẽ được đảm bảo. Khả năng sản xuất và cung ứng 1,6 triệu tấn đạm mỗi năm là điều gần như chắc chắn.PVFCCo sẽ cung cấp phân đạm với 2 dòng sản phẩm: ure hạt trong prill của Nhà máy Đạm Phú Mỹ và sản phẩm ure hạt đục granular của Nhà máy Đạm Cà Mau, chất lượng đạt các tiêu chuẩn sản phẩm của các nhà máy đạm công nghệ hàng đầu trên thế giới từ nguồn nguyên liệu khí thiên nhiên. Về giá cả, đạm Phú Mỹ và đạm Cà Mau được sự bảo đảm nguồn nguyên liệu là khí thiên nhiên từ Tập đoàn Dầu khí Việt Nam với giá cả hợp lý, quản lý sản xuất hiệu quả, sẽ đảm bảo duy trì giá thành sản xuất ở mức độ cạnh tranh trước sản phẩm nhập khẩu.Vai trò của PVFCCo đối với nền nông nghiệp đất nước, chính là biểu hiện điển hình cho mục tiêu thực hiện chính sách đưa sản phẩm công nghiệp từ nguồn nguyên liệu của ngành dầu khí để sản xuất phân bón phục vụ nền nông nghiệp, tăng cường mối liên kết và làm cầu nối liên minh công nông, thực hiện chính sách tam nông của Đảng và Nhà nước. PVFCCo tiếp tục khẳng định vai trò trên trong chiến lược phát triển của mình trong thời gian tới, với những thế mạnh trong khâu sản xuất, khâu phân phối. Thủy Mai .. Hàng trăm tấn phân bón giả Từ lời khai ban đầu của các đối tượng, sáng 23-6 lực lượng chức năng kiểm tra cơ sở số C4/20D ấp 3 đường Lê Đình Chi, xã Lê Minh Xuân, huyện Bình Chánh. Đây là nơi hoàn tất công đoạn đóng bao có mẫu mã bắt mắt như ngoài bao bì quảng cáo nhập khẩu từ Israel, Công ty cổ phần Vinacam...” để lừa nông dân. Không những thế, lần theo các hóa đơn, chứng từ cơ quan chức năng xác định đã có một lượng lớn phân bón giả đã được tung ra thị trường. Theo đó, những nơi sản phẩm phân bón giả này được đưa về nhiều nhất là các tỉnh Đăk Lăk, Đồng Nai và một số đại lý trên địa bàn TPHCM. Chỉ riêng tại kho C4/20D ấp 3 cơ quan chức năng đã phát hiện khối lượng phân bón giả ước tính gần 328 tấn. Bao bì nhái các thương hiệu lớn ảnh nhỏ Ông Lý Ngọc Thắng - Đội trưởng 3A Chi cục QLTT TPHCM cho biết, hiện đã triệt phá được 3 ổ liên quan đến việc làm phân bón giả. Hàng chục chiến sĩ Đội 3A đã liên tục làm việc tại 3 điểm ở quận Bình Tân, Tân Phú, Q11 phát hiện được tổng cộng trên 550 tấn phân bón giả các loại. Tuy nhiên, đây chưa phải là con số cuối cùng. Hiện cơ quan QLTT và PC15 tiếp tục khẩn trương điều tra vụ làm phân bón giả nói trên để làm cơ sở xử lý nghiêm minh trước pháp luật. Trước mắt, toàn bộ số hàng sẽ bị tạm giữ để điều tra làm rõ. Cũng theo VINACHEM, trong tháng 2, do thời tiết các địa phương phía Bắc rét đậm, rét hại, diện tích gieo cấy mới đạt 424.000 ha, giảm 55,2% so với cùng kỳ năm 2007 nên nhu cầu về phân bón cũng chưa tăng. Trong khi đó, các nhà máy sản xuất phân bón trong nước vẫn tiếp tục duy trì sản xuất cao nên lượng phân lân sản xuất trong 2 tháng qua đạt 245.000 tấn, tăng 18,4%; phân đạm urê đạt 158.000 tấn tăng 2% so với cùng kỳ. Ngoài ra, giá urê trên thị trường thế giới tháng 2 đã giảm khoảng 10-15 USD/tấn so với tháng 1; do vậy các doanh nghiệp đang tranh thủ tăng lượng phân bón nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu trong nước. Hiện giá bán urê trong nước ổn định ở mức 6700-7000 đ/kg. Tháng 4, giá một số loại phân bón tăng do ảnh hưởng của cước phí vận tải. Hiện giá bán lẻ phân bón phổ biến ở mức: Ure 8.000-8.500 đồng/kg; kali 10.000-10.800 đồng/kg; DAP 14.000 - 15.300 đồng/kg; NPK từ 11.000-12.000 đồng/kg... Hải Quỳnh. Phân bón giả Ảnh internet 5 lít nước+ vài thìa ure bột = phân ure đậm đặc Phân bón nhái nhãn mác thường được làm ở một số công ty, tổ hợp nhỏ lẻ nơi vùng sâu, vùng xa. Một số cơ sở ở tỉnh Bình Thuận, Bình Dương, Bình Phước, Đắc Nông, Đồng Nai, Hải Phòng, Phú Yến, Thanh Hóa… bị phát hiện đã in nhãn mác của các công ty có thương hiệu. Trong đó, trên bao bì ghi tổng hàm lượng dinh dưỡng 53%, nhưng khi cơ quan chức năng kiểm định thì phát hiện tổng hàm lượng dinh dưỡng chỉ có... 2,99%... Còn đối với loại phân bón ure nước, một số cơ sở đã sản xuất theo công thức: pha 5 lít nước với vài thìa canh ure bột. Sản phẩm này được đưa ra thị trường với giá 50.000 đồng/can 5 lít và quảng cáo cho nông dân đây là phân ure đậm đặc. Còn công dụng được "đẩy" đến mây xanh: làm cho đất tốt, năng suất cao và kết hợp chống... Hạn. Kết quả, sản phẩm chống hạn dỏm này được tiêu thụ mạnh trong mùa hè ở khu vực Tây Nguyên, Phú Yên, Yên Bái… Còn hậu quả là nhiều cây trồng của nông dân đã bị chết hoặc không phát triển được. Độc chiêu hơn, để tạo niềm tin cho nông dân, nhiều cơ sở sản xuất phân bón giả đã thông qua giới thiệu của Hội nông dân để tiếp cận người dân hoặc tổ chức hội thảo, tặng sản phẩm... Đẩy mạnh công tác giám sát, tuyên truyền Thống kê cho thấy, tình hình vi phạm sản xuất, kinh doanh phân bón giả, kém chất lượng ngày càng diễn biến phức tạp với nhiều thủ đoạn tinh vi. Trong năm 2012 và 6 tháng đầu năm 2013, lực lượng Quản lý thị trường QLTT cả nước đã kiểm tra 5.372 vụ, xử lý 1.390 vụ với tổng số tiền phạt 17,2 tỷ đồng và tịch thu 917 tấn phân bón các loại. Nhiều vụ sản xuất, kinh doanh phân bón giả, kém chất lượng với quy mô và số lượng lớn đã được Cục QLTT chuyển hồ sơ sang cơ quan Cảnh sát điều tra để xử lý. Bên cạnh đó, còn phát hiện nhiều trường hợp phân bón kém chất lượng nhập khẩu từ Trung Quốc đã làm giả các thương hiệu phân bón của Việt Nam. Tiêu hủy phân bón giả Ảnh internet Để chống nạn kinh doanh, sản xuất phân bón nhái, giả, Ông Đỗ Thanh Lam - Phó Cục Trưởng Cục QLTT, cho chung nhan, phan bon rằng: "Cần làm tốt công tác dự báo, nắm chắc diễn biến thị trường và làm rõ các phương thức, thủ đoạn của các đối tượng vi phạm. Từ đó rút ra các quy luật hoạt động của các cơ sở này, để có các phương án kiểm tra, kiểm soát hiệu quả”. Còn theo đại diện Cục Cảnh sát Kinh tế - Bộ Công An thì Cục Cảnh sát kinh tế với Hiệp hộp phân bón, Cục hóa chất, Cục Trồng trọt, Cục QLTT cần tăng cường phối hợp trong công tác thanh tra, kiểm tra để phát hiện, ngăn chặn, và xử lý vi phạm kịp thời. Đồng thời, tuyên truyền để nông dân phân biệt phân bón thật, giả và tác hại của phân bón giả. Nguyễn Cẩm .
.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét